Cẩu Tích

Cẩu Tích

Trang chủ Cẩu Tích


1. Cẩu Tích: (Rhizoma Cibotii)

+ Tên khác: Kim mao Cẩu tích, rễ lông Cu li là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Lông Cu li.

+ Cây thuốc: Cẩu tích nghĩa là xung quanh cây bao phủ một lớp lông màu vàng rất giống như lông con chó (Cẩu nghĩa là chó). Cẩu tích là một loài quyết thực vật, cây có chiều cao thấp (Nhưng cũng có khi cao tới 2 mét), mọc ở tầng dưới cùng của các thảm thực vật. Bên ngoài cây bao phủ một lớp lông màu vàng, nếu nhìn không kỹ rất dễ nhầm tưởng đó là một con vật.

+ Dược liệu: Đoạn thân rễ đã loại bỏ lớp lông màu vàng nâu bên ngoài, mặt ngoài rất gồ ghề, khúc khuỷu, có những chỗ lồi lên thành mấu, màu nâu hoặc nâu hơi hồng, đường kính 2 – 5 cm, dài 4 – 10 cm, rất cứng, khó cắt, khó bẻ gẫy; đôi khi còn sót lại ít lông màu vàng nâu. Dược liệu khi dùng thường đã thái thành phiến mỏng hình dạng thay đổi, mặt cắt ngang nhẵn, màu nâu hồng hay nâu nhạt, có vân.

+ Phân bố: Cây mọc rải rác khắp các vùng miền núi nước ta, nhiều nhất vẫn là miền núi vùng tây Bắc như: Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Điên Biên, Hòa Bình, Thanh Hóa...

+ Xuất xứ: Trung Quốc.

+ Bộ phận dùng: Thân rễ đã cạo sạch lông, phơi hay sấy khô của cây Lông culi (Cibotium barometz J. Sm. = Dicksonia barometz L.), họ Kim mao (Dicksoniaceae).

2. Thu hái - sơ chế:

+ Thân rễ quanh năm, tốt nhất vào mùa thu- đông, cắt bỏ rễ con và cuống lá, cạo hết lông vàng để riêng. Rễ củ đã cạo hết lông, rửa sạch, thái phiến hay cắt từng đoạn dài 4-10mm, phơi hay sấy khô. Cần bảo quản nơi khô ráo. Khi dùng tẩm dược liệu với rượu để một đêm rồi sao vàng.

3. Bào chế - bảo quản:

Bào chế:

+ Rang cát nóng, cho dược liệu đã thái phiến vào, tiếp tục rang cho cháy hết lông còn sót lại. Lấy ra để nguội, rửa sạch, ngâm nước 12 giờ, đồ kỹ cho mềm, tẩm rượu 12 giờ rồi sao vàng. Có thể chích muối ăn để tăng bổ thận.

Bảo quản: Để nơi khô ráo, tranh ẩm, mốc, mọt.

4. Thành phần:

+ Có alkaloid Tục đoạn, ít tinh dầu, chất màu, vitamin E (sách của Đỗ tất Lợi gọi chất alkaloit trong Đỗ trọng là Lamin). Cũng theo sách này viết sơ bộ nghiên cứu Tục đoạn Việt nam thấy dịch chiết Tục đoạn có vị hơi ngọt, sau hơi tê lưỡi, có phản ứng acid với giấy quì, có phản ứng dương với các thuốc thử chung với alkaloit, phản ứng tanin cũng rõ rệt, có đường và có thể có saponin (Lê Anh 1961, Bộ môn Dược liệu).

5. Tính vị - quy kinh:

Tính vị:

+ Theo các sách thuốc cổ:

- Sách Bản kinh: Vị đắng bình.

- Sách Dược tính bản thảo: Vị đắng cay, hơi nhiệt.

Qui kinh:

+ Sách Lôi công bào chế dược tính giải: Nhập Can, Bàng quang.

+ Sách Bản thảo cầu chân: Nhập Can thận.

+ Sách bản thảo tái tân: Nhập Tâm can thận.

6. Tác dụng - chủ trị:

Tác dụng dược lý:

+ Tác dụng bổ thận.

+ Điều trị chứng phong tê thấp.

+ Tác dụng cầm máu (Với tên gọi lông cu li): Khi bị chảy máu chỉ cần lấy 1 ít lông này đắp vào vết thường là cầm được máu ngay. Tác dụng này có được là do lông cu li hút huyết thanh của máu, hình thành máu cục bởi vậy làm cho máu chóng đông.

+ Tác dụng mạnh gân xương nhất là ở người cao tuổi.

Chủ trị:

Bổ can thận, mạnh gân xương lưng gối, trừ phong thấp. Trị chứng thận hư, đau lưng, cứng cột sống, tiểu tiện khó cầm, khí hư, bạch đới.

Theo các sách thuốc cổ:

Sách Danh y biệt lục: "Liệu thất niệu bất tiết, nam tử cước nhược yêu thống, phong tà lâm lộ, thiểu khí mục ám (khí kém, mắt mờ), khiến cong ưỡn sống lưng dễ dàng, nữ tử khớp xương co duỗi khó khăn".

Sách Bản thảo cương mục: "Cường can thận, kiện cốt trị phong hư".

7. Kiêng kỵ: Thận hư nhiệt, nước tiểu vàng không nên dùng.

8. Một số cách dùng thông dụng:

+ Đau nhức sống ngang lưng, tiểu nhiều khó cầm, thuốc có tác dụng bổ can thận: Cẩu tích ẩm: Cẩu tích 16g, Ngưu tất, Thổ ti tử, Sơn thù du, Lộc giao (chưng), Đỗ trọng mỗi thứ 12g, Thục địa 16g, sắc uống.

+ Trị chứng phong thấp hoặc hàn thấp chân tay tê đau: 

"Huyết bảo đơn": Cẩu tích 16g, Chế Ô đầu, Tỳ giải mỗi thứ 12g, Tô mộc 8g, tán bột làm hoàn, mỗi lần uống 6-8g, ngày 2 lần, có thể sắc uống.

"Cẩu tích ẩm": Kim mao cẩu tích, Xuyên Ngưu tất, Hải phong đằng, Mộc qua, Tang chi, Tùng tiết, Tục đoạn, Tần giao, Quế chi, Đương qui, Hổ cốt mỗi thứ 12g, Thục địa 20g, sắc uống. Có thể thêm rượu càng tốt, dùng tốt đối với bệnh nhân phong thấp có khí huyết hư.

+ Trị đau lưng, gân mạch khớp chân khó cử động: Cẩu tích, Đỗ trọng, Khương hoạt, Nhục quế mỗi thứ 30g; Tỳ giải, chế Phụ tử, Ngưu tất mỗi thứ 50g; Tang ký sinh 40g. Rượu trắng 1500 ml ngâm một tuần, lọc phần trong để uống. Hoặc ngâm 3 lần nhập lại để uống thì kinh tế hơn.

+ Trị can thận hư suy, phong thấp lưng chân đau: Cẩu tích, Đan sâm, Hoàng kỳ mỗi thứ 30g, Đương quy 25g, Phòng phong 15g; rượu trắng 1000 ml.

+ Trị lưng đau, gối mỏi thuộc thận âm hư: Cẩu tích, Thỏ ty tử, Đương quy, Phục linh, lượng bằng nhau. Nghiền thành bột, luyện mật ong thành viên 9g. Ngày uống 3 lần. Mỗi lần 1-2 viên uống với nước sôi.

+ Đau mỏi thắt lưng tiểu tiện luôn, phụ nữ đới hạ: Cẩu tích 16g, Ngưu tất, Thỏ ty tử, Sơn thù du, Lộc giao (chưng), DDỗ trọng mỗi thứ 12g, Thục địa 16g. Sắc uống.

+ Lưng gối mỏi do thận can hư: Cẩu tích 10g, Sa uyển tử 12-15g, Đỗ trọng 10-12g. Sắc uống ngày một thang.

+ Viêm cột sống tăng sinh có gai do can thận bất túc: Cẩu tích, Bạch thược, Thục địa, Nhục thung dung, Ngưu tất, Cốt toái bổ mỗi thứ 15g; Sơn thù du, Câu kỷ tử, Nữ trinh tử, Đương quy mỗi thứ 10g; Kê huyết đằng 30g; Mộc hương 6g. Sắc uống ngày một thang.

+ Đau nhức tất cả các khớp to nhỏ: Cẩu tích 30g; Cốt toái, Huyết giác, Độc hoạt, Ngưu tất mỗi thứ 20g; Sinh địa, Mạch môn, Mộc qua, Đan bì, Cốt khí củ mỗi thứ 15g. Nếu đau lưng, nhức mỏi, gia thêm Ba kích, Tục đoạn, Hà thủ ô mỗi thứ 12g. Chân tê bì hay hơi nề, gia Mộc thông, Tỳ giải, Thiên niên kiện mỗi thứ 12g. Sưng khớp có sốt, gia Goàng đằng 12g, Bạch chỉ 6g. Đau đầu, khó ngủ, táo bón, huyết áp cao thêm Quyết minh tử (hạt muồng sao) 24g.

+Các khớp tê buốt, sưng phát cước, sợ nước, sợ lạnh ăn, đại tiện lỏng: Cẩu tích, Bạch chỉ, Cốt toái, Thiên niên kiện, Độc hoạt, Thương truật đều 15g; Bạch truật 20g; Xuyên khung, Tô mộc, Tùng hương hay Nhũ hương, Quế chi đều 10g; Phụ tử chế, Cam thảo đều 8g. Sắc uống hai ngày một thang.