Hải Tảo (Rong Biển)

Hải Tảo (Rong Biển)

Trang chủ Hải Tảo (Rong Biển)


1. Hải Tảo: ( Sargassum )

+ Tên khác: Rong biển, Tảo biển,  Rau mã vĩ, Rau ngoai, Rong mơ, Tương, Lạc thủ, Hải la, Ô thái, Hải đới hoa.

+ Cây thuốc: Hải tảo là loại rong mọc thành bụi lớn, cao 40-60cm, hoặc hơn, màu nâu vàng hay nâu ôliu. Thân chính dạng trục tròn, dài 0,7-1,2m, có nhiều mấu lỗi nhỏ. Nhánh chính trụ dẹp, các nhánh thứ cấp trụ tròn, dài 5-6cm, mọc theo kiểu lông chim không theo quy luật về hai phía của nhánh chính, trên đó mọc ra nhiều chùm nhánh bên nhỏ, ngắn. Lá hình bầu dục dài hay dạng kim lớn, số lượng nhiều, đặc biệt là phần ở gốc; thường chia nhánh, dài 3,5-6,5cm, rộng 3-8mm; mép nhẵn hay có răng cưa, đôi khi có răng cưa kép, có ổ lông, có gân giữa. Túi khí hình cầu hay hình bầu dục tròn, đường kính 2-3mm, có cuống hình trục, dài 3-8mm, thỏi sinh sản hình trục tròn ngắn, thô, chia nhánh hay không, mọc xen kẽ nhau; thỏi đực dài và nhỏ hơn.

+ Dược liệu:

+ Phân bố: Rong biển mọc hoang khắp bờ biển nước ta, thường bám vào những dãy đá ngầm ven biển, nhiều nhất là ở vùng biển Vĩnh linh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh hóa, Nam Hà, Thái Bình, Quảng ninh.

+ Xuất xứ: Trung Quốc

+ Bộ phận dùng: Cả cây. 

2. Thu hái - sơ chế:

+ Đến mùa hè thu hái rong biển đem về bỏ tạp chất, rửa sạch phơi cho héo cắt nhỏ phơi khô làm thuốc.

3. Bào chế - bảo quản:

Bào chế:

+ Theo kinh nghiệm Việt Nam:

- Rửa sạch, bỏ hết tạp chất, thái nhỏ phơi khô dùng.

+ Theo Trung y:

- Trộn với đậu đen, đồ lên một lúc, phơi khô dùng.

- Nay chỉ rửa cho hết vị mặn, sấy khô dùng.

Bảo quản:

Để nơi khô ráo, tránh ẩm mốc.

4. Thành phần:

+ Hải tảo chứa Alginic acid, manitol, kali, i-od, laminine, sargassan.

+ Theo sách Đỗ tất Lợi trong Hải tảo có từ 10-15% muối vô cơ (trong đó có rất nhiều i-od 0,3 - 0,8% asen, kali); 1 - 2% lipid; 4 - 5% protid và nhiều algin hay alginic acid.

+ Theo sách Trung dược học thành phần có i-od (Dương thê thái 0,03%, Hải khao tử 0,017%), acid Hải tảo, Hải giao tố (gelatine), manitol, amino acid, sắt, Kali.

  

5. Tính vị - quy kinh:

Tính vị:

Đắng, mặn, lạnh (Trung dược đại từ điển).

Mặn, lạnh (Trung dược học).

Vị đắng, lạnh (Bản kinh).

Vị mặn, không độc (Biệt lục).

Mặn, có độc nhỏ (Dược tính luận).

Quy kinh:

Vào kinh Phế, Tỳ, Thận (Trung dược đại từ điển).

Vào Can, Thận kinh (Trung dược học).

Vào Tỳ (Bản thảo tân biên).

Vào Thận (Bản thảo cầu chân).

Vào 2 kinh Phế, Vị (Bản thảo tái tân).

6. Tác dụng - chủ trị: 

Tác dụng dược lý:   

 + Thuốc có nhiều iod nên có tác dụng điều trị đối với bướu cổ do thiếu iod. Đồng thời cũng  có tác dụng giảm nhẹ triệu chứng đối với chứng cường giáp nhưng không bền.

+ Alginic acid và calci trong Hải tảo có tác dụng cầm máu khi chấn thương.

+ Thuốc cho chuột cống được nuôi với chế độ cao cholesterol uống, nhận thấy cholesterol trong huyết thanh và trong tạng phủ đều hạ. Một số nghiên cứu khác cho thấy tác dụng hạ nhẹ cholesterol huyết thanh của chuột có dùng kèm alginic acid nhưng không phải là do tăng chế độ ăn cao cholesterol.

+ Nước chiết xuất Hải tảo do tác dụng ức chế một số nấm gây bệnh ngoài da. Algenic acid không có tác dụng này.

+ Tác dụng hạ áp: thuốc cho chó và thỏ gây mê uống với liều 0,75g/kg có tác dụng hạ áp + Thuốc nước chiết xuất có tác dụng hạ áp tốt hơn chiết xuất cồn.

+ Thí nghiệm trên thỏ cho thấy Cam thảo không có tác dụng đối kháng với Hải tảo khi hai loại thuốc cùng dùng chung (Trong số 18 phản mà sách Thần nông bản thảo đề xuất có nói đến Cam thảo phản Cam toại, Đại kích, Nguyên hoa, Hải tảo).

Tác dụng:

+ Nhuyễn kiên, tiêu đờm, lợi thủy, tiết nhiệt.

+ Giúp mềm khối u trong các trường hợp bướu cổ.

+ Phòng ngừa và hỗ trợ điều trị các bệnh tuyến giáp như cường giáp, suy giáp và ung thư tuyến giáp.

+ Giúp làm mềm các khối u tuyến giáp, giảm viêm, giảm sưng, đau ở các khối u tuyến giáp, ngăn chặn các chất độc có thể gây ra tình trạng nhiễm độc giáp.

Chủ trị:

+ Trị bướu cổ, tràng nhạc, thủy thũng (phù thũng).

7. Kiêng kỵ:

+  Tỳ Vị hư hàn, có thấp trệ không nên dùng.

8. Một số cách dùng thông dụng:

+ Trị thiếu máu não: Trong Hải tảo có thể chiết xuất một loại PSS tác dụng giống như Heparin, có tác dụng chống đông máu, làm giảm độ dính của máu, hạ lipid huyết và cải thiện vi tuần hoàn, dùng 1 - 2mg/kg, cho vào 500ml gluco 10%, nhỏ giọt tĩnh mạch ngày 1 lần, 10 ngày là 1 liệu trình. Tác giả đã theo dõi 288 ca, trong đó nhũn não 237 ca có kết quả 92%, còn dùng trị tắc mạch não cấp 251 ca, có kết quả 93,2% (Hàn trọng Nham, Tạp chí Thực dụng Nội khoa 1987, 11:580).

+ Trị lao hạch: Hải tảo hoàn: Hải tảo 10g, Bạch cương tàm 5g đều sao tán thành bột, trộn với nước sắc quả mơ (Bạch mai) làm hoàn chia 2 lần uống.

+ Trị bướu cổ: Hải tảo tán nhỏ dập thành viên Iotamin (chứa 50 - 70microgam iod/viên), ngày dùng 2 - 4 viên trong 3 - 5 tháng.

+ Trị lở ngứa ngoài da: Hải tảo 16g, Liên kiều 12g, Ngưu bàng 8g, Côn bố 8g, Hạ khô thảo, Nga truật đều 8g, Tam lăng 4g (hoặc thay củ Cói), Trần bì, Bán hạ đều 2g, nước 600ml sắc còn 300ml uống 2 lần trong ngày.

+ Trị dưới cổ chợt kết nang, dần lớn muốn thành bướu cổ: Hải tảo 1 cân (bỏ mặn), rượu trong 2 thăng. Hai vị trên, dùng túi lụa đựng Hảo tảo ngâm rượu, xuân hạ ngày 2 lần. 1 lần 2 hợp, uống chút ít thôi, ngày 3 lần. Bã phơi khô, nghiền bột uống thìa 1 tấc vuông, ngày 3 lần. Hết lại làm, 3 tể là tốt (Trửu hậu phương).

+ Trị tràng nhạc như rắn cuộn, đỉnh đầu liên tiếp nhau: Hải tảo thái (Dùng bột kiều mạch sao qua), Bạch cương tàm (sao) lượng bằng nhau. Nghiền nhỏ, lấy mơ trắng ngâm nước, hòa hòan, lớn như hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 60 hòan, nước cơm uống, ắt tiết ra khí độc.

+ Trị thạch anh, khí anh, lao anh, thổ anh, ưu anh: Hải tảo (rửa), Long đởm, Hải cáp, Thông thảo, Côn bố (rửa), Phàn thạch (khô), Tùng la đều 3 phân, Mạch khúc 4 phân, Bán hạ. Thuốc trên nghiền nhỏ, rượu uống thìa 1 tấc vuông, ngày 3 lần. Kỵ mọi vật tạp độc như cá diếc, thịt heo, 5 thứ cay, rau sống. (Tam nhân phương – Phá kết tán).

+ Trị bướu cổ đơn thuần: Hải tảo 1kg, Rượu ngon 1 lít. Hải Tảo rữa cho bớt mặn, thái nhỏ, bỏ vào túi lụa, ngâm vào rượu khoảng 2 tuần, đem ra dùng. Mùa Xuân và Hạ: 2 ngày uống 1 lần, mỗi lần 40ml, ngậm nuốt dần. Khi rượu hết, lấy bã Hải Tảo phơi khô, tán nhỏ. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 8g. (Hải Tảo Tửu – Ngoại Đài Bí Yếu).

+ Trị chứng Can uất đờm ngưng sinh bướu cổ (basedow): Bán hạ 16g, Bối mẫu 10g, Cam thảo 3g, Côn bố 16g, Hạ khô thảo 30g, Hải cáp phấn 20g, Hải tảo 16g, Huyền sâm 16g, Liên kiều 10g, Nam tinh 10g, Ngưu tất 10g, Trần bì 10g. Sắc uống. Tác dụng: Sơ Can, hóa đờm, nhuyễn kiên, tán kết (Hải Tảo Ngọc Hà Thang Gia Giảm).

+ Trị sưng tuyến giáp trạng: Côn bố, Hải tảo, Thông thảo, Hải cáp, mỗi thứ 9g, Dương yếm 60g (xắt lát, sấy khô), tán bột trộn mật làm viên. Mỗi lần uống 9g, ngày 2 lần (Côn Bố Hoàn).
- Trị bướu cổ: Bán hạ chế 12g, Bối mẫu 12g, Côn bố 12g, Độc hoạt 12g, Đương quy 12g, Hà tai 12g, Hải tảo 12g, Liên kiều 8g, Thanh bì 5g, Trần bì 6g, Xuyên khung 4. Sắc uống. Tác dụng: Hóa đờm, nhuyễn kiên, tiêu tán u bướu. (Hải Tảo Ngọc Hà Thang).

+ Trị sưng hạch cổ: Hải tảo 12g, Côn bố 12g, Phục linh 12g, Xuyên sơn giáp 6g. Toàn yết 6g, Long đởm thảo 8g, Đương quy 8g, Đào nhân 8g. Tán bột làm viên mỗi lần uống 6g, ngày 2 lần. (Hải Long Hoàn).