Kha tử

Kha Tử

Trang chủ Kha Tử


1. Kha Tử: ( Fructus Chebulae )

+ Tên khác: Cây chiêu liêu, Hạt chiêu liêu, Kha lê, Kha lê lặc...

+ Cây thuốc: Kha Tử là cây to, cao 15-20m. Cành non có lông. Vỏ thân màu xám nhạt, có vách nứt dọc. Lá mọc so le, đầu nhọn, 15-20cm, có lông mềm, sau nhẵn. Ở đầu cuống lá có 2 tua nhỏ. Hoa nhỏ, màu trắng vàng vàng, thơm, xếp thành chùy ở nách lá hay ở ngọn, phủ lông màu đồng. Quả hình trứng thuôn dài, màu nâu vàng nhạt, có thịt đen. Hạch chứa một hạt dày 4mm, có lá mầm cuộn. Cây ra hoa tháng 5-6, có quả tháng 8-9.

+ Dược liệu: Vị thuốc Kha tử là quả có hình quả trám hoặc hình trứng thuôn, dài 2 - 4 cm, đường kính 2 - 2,5 cm. Mặt ngoài màu nâu hơi vàng hoặc màu nâu thẫm, hơi sáng bóng; có 5 - 6 cạnh dọc và vân nhăn không đều; phần đáy có vết sẹo cuống quả, hình tròn. Chất chắc, thịt quả dày 0,2 - 0,4 cm, màu nâu hơi vàng, hoặc vàng nâu thẫm; hạch quả dài 1,5 - 2,5 cm, đường kính 1 - 1,5 cm, màu vàng nhạt, thô và cứng. Hạt hình thoi hẹp, dài chừng 1 cm, đường kính 0,2 - 0,4 cm, vỏ cứng màu vàng nâu, đôi lá mầm màu trắng, chồng lên nhau và cuộn xoắn lại. Không mùi, vị chua, chát, sau ngọt.

+ Phân bố:

Phân bố nhiều ở rừng thường xanh, rừng nửa rụng lá và khu vực rừng chuyển tiếp giữa rừng nửa rụng lá và rừng khộp (rừng rụng lá ưu thế cây họ Dầu). Trong nhiều khu rừng chiêu liêu chiếm 2-4% tổ thành cây gỗ lớn. Cây chiêu liêu thường mọc ở các địa hình bằng phẳng ven sông suối, dọc đường đi, chân núi ở độ cao dưới 1200m, gặp nhiều ở độ cao 300-700m. Ở Ấn Độ, chiêu liêu có thể phân bố đến độ cao 1500m. Cây chiêu liêu mọc trên cả đất pha sét và đất cát. Cây chiêu liêu chịu lạnh, khô và chịu lửa, do có vỏ dày. Chiêu liêu tái sinh rải rác dưới tán rừng thưa, có độ tàn che 0,3-0,4. Cây chiêu liêu cũng có khả năng tái sinh chồi tốt. Thông thường, chiêu liêu cùng mọc với chiêu liêu đen, chiêu liêu ổi.

- Cây kha tử mọc hoang và được trồng ở một số tỉnh miền Nam nước ta. Trên thế giới, cây Chiêu liêu mọc hoang và được trồng ở các nước Đông Nam á (Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện), Ấn Độ. Trước đây, Trung Quốc phải nhập vị Kha tử ở Ấn Độ và Việt Nam, nay đã trồng được ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây. 

+ Xuất xứ: Vân Nam, Trung Quốc.

+ Bộ phận dùng: Quả khô – Fructus Chebulae, thường gọi Kha tử. Có khi dùng cả vỏ cây. 

2. Thu hái - sơ chế:

 + Thu hái quả vào mùa quả chín (tháng 9-11), phơi khô. Khi dùng sao qua, bỏ hạt. Kha tử đã loại bỏ tạp chất, rửa sạch, phơi khô, khi dùng đập nát.

3. Bào chế - bảo quản:

Bào chế:

+ Theo kinh nghiệm Viện Đông y:

- Rửa sạch, để ráo nước, sao sơ, lúc bốc thuốc thang giã dập, bỏ hạt dùng.

+ Theo kinh nghiệm của nhân dân :

- Lấy vỏ giã dập rồi ngậm để trị đau cổ họng hoặc ho mất tiếng.

- Người thường ca hát, dùng thịt quả kha tử nhào với mật ong và ô mai ngậm cho thành tiếng, tránh bị khô cổ.

+ Theo Trung y:

- Rửa sạch, ủ mềm, bọc giấy bản, thấm nước, lùi chín, lấy thịt dùng, bỏ hạt.

Bảo quản:

+  Thường đem phơi để tránh mọt, đựng kín.

4. Thành phần:

+ Trong thịt quả kha tử có: Tanin 51,3% gồm các axit: galic, egalic, luteolic, chebulinic có tác dụng kháng sinh trị nhiễm khuẩn (vi khuẩn, virus); các chất Chebutin, terchebin có tác dụng chống co thắt cơ trơn (trợ tim, chống ho, chống co thắt dạ dày, ruột…)

+ Quả kha tử có khoảng 30% chất làm săn da với các chất đặc trưng là các acid chebulinic, chebulagic; các tanin (20-40%) với các đặc trưng là acid elagic, glucogalin, senosid A(2), các men polyphenol oxidase, tanase, các đường glucose, arabinose, fructose và các acid amin…

+ Nhân quả chiêu liêu chứa 3-7% chất dầu màu vàng trong suốt, thuộc loại dầu bán khô, trong đó thành phần chủ yếu là các acid palmatic, oleic và linoleic. Một hợp chất có hoạt tính chống ung thư là chebulanin cũng chiết được từ cây chiêu liêu.

5 . Tính vị - quy kinh:

Tính vị:

Vị đắng, cay, se và tính ôn.

Qui kinh:

+ Vào kinh phế và đại tràng.

6. Tác dụng - chủ trị:

Tác dụng dược lý:

+ Ngày nay, y học hiện đại đã chứng minh tác dụng của Kha tử trong điều trị viêm họng, khản tiếng bằng các nghiên cứu lâm sàng. Trước hết là tác dụng giảm ho, thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy hoạt chất Polysaccharid trong Kha tử có khả năng giảm ho rõ rệt. Tác dụng dược lý này của Polysaccharid thậm chí cao hơn so với những chất chống ho mạnh nhất trong thí nghiệm lâm sàng như codein. Cụ thể, sau khi uống chiết xuất Kha tử từ 30, 60, 120, 300 phút, người bệnh đã giảm rõ rệt phản xạ ho ngay từ phút 30.

+ Theo đơn vị Nghiên cứu nông nghiệp và sinh học, Viện thống kê Ấn Độ năm 2013 nhờ chất Alloyl nên Kha tử sở hữu hoạt tính kháng vi rút. Hoạt chất này đóng vai trò quan trọng đối với sự ức chế các vi rút loại 1 và một số vi rút làm giảm hệ miễn dịch của con người.

+ Nghiên cứu của các nhà khoa học Slovakia và Ấn Độ trên động vật cũng cho thấy hoạt tính kháng khuẩn trong Kha tử với hàm lượng tamin giàu có (chiếm 24-64%) tổng hợp trong đó là các axit galic, egalic, luteolic, chebulinic. Sự tồn tại của hoạt chất đặc biệt này đã khiến Kha tử trở thành chất kháng sinh tự nhiên, có khả năng diệt khuẩn mạnh mẽ.

+ Dựa trên hoạt tính dược lý lợi thế đó, con người hiện đại đã không ngừng nghiên cứu, cho ra các chế phẩm Kha tử với tác dụng ức chế in vitro (một phương pháp nghiên cứu trong sinh học thực nghiệm) một số vi khuẩn như trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn bạch hầu, Pseudomonas aeruginosa, Salmonella typhi, tụ cầu vàng và liên cầu khuẩn tán huyết.

+ Do đó với bệnh viêm họng, khản tiếng có 80% nguyên nhân do từ vi rút (điển hình như virusRhinovirus, coronavirus, parainfluenza virus, virut cúm A, cúm B, Viruts adenovirus, virus Epstein-Barr (EBV), herpes simplex (HPV)) và khoảng 20% còn lại do các vi khuẩn như tụ cầu, liên cầu,…thì sử dụng Kha tử rất hiệu quả.

Tac dụng: 

+ Sáp trường, liễm phế, giáng hoả, thông lợi yết hầu.

Chủ trị: 

+ Tiêu chảy, lỵ lâu ngày, đại tiện ra máu, thoát giang (sa trực tràng), phế hư, ho, suyễn, ho lâu ngày không ngừng, yết hầu đau, tiếng khàn.

7. Kiêng kỵ:

+ Không dùng Kha tử trong các trường hợp ho do Phế có thực nhiệt.

+ Tiêu chảy do thấp nhiệt, mới cảm, có thực tà không nên dùng.

+ Không dùng kha tử cho các trường hợp mắc hội chứng ngoại cảnh và trong khi tích tụ nhiệt thấp ở trong cơ thể. Không dùng trong trường hợp táo bón, mới cảm ngoại tà.

8. Một số cách dùng thông dụng:

+ Ỉa chảy mạn tính, lỵ mạn tính và sa hậu môn (Trĩ nội) Chứng nhiệt: Dùng phối hợp kha tử với hoàng liên và mộc hương dưới dạng kha tử tán.

+ Hội chứng suy yếu và hàn: Dùng phối hợp kha tử với can khương và anh túc xác.

+ Ho và hen do phế hư hoặc ho mạn tính kèm khàn giọng: Dùng phối hợp chi tử với cát cánh, cam thảo và hạnh nhân. Liều dùng: 3-10g (dạng sống để chữa khàn giọng, dạng nướng dùng trị ỉa chảy).  

+ Trị ho cảm, khan tiếng (viêm họng): Kha tử 4 quả, Cam thảo 6g, Cát cánh 10g, thêm đồng tiện 150ml, nước 150ml sắc uống. Tác dụng: Tuyên Phế, chỉ khái, lợi hầu, khai âm. (Kha Tử Cam Cát Thang – Cổ Kim Y Thống).

+ Trị Tâm Tỳ đau hoắc loạn, thổ tả (do lạnh): Cam thảo, Can khương, Hậu phát, Lương khương, Kha tử, Mạch nha, Phục linh, Thảo quả, Thần khúc, Trần bì. Lượng bằng nhau. Tán bột ngày uống 2 lần mỗi lần 6g. (Kha Tử Tán – Tuyên Minh Luận).

+ Chữa ho khản tiếng do phế hư: Kha tử giã dập, bỏ hạt 8g, Cát cánh 10g, Cam thảo 6g. Sắc 3 nước, cô lại còn 200ml chia làm 4 lần uống trong ngày. Dùng thuốc đến khi khỏi.

+ Trị tiêu chảy (do tỳ khí hư hàn) tiêu phân sống, ruột sôi, bụng đau, thoát giang, trĩ lậu: Can khương 4g, Cù túc xác 2g, Kha tử 2,8g, Quất hồng 2g. Tán bột ngày uống 2 lần mỗi lần 6g. (Kha Tử Tán – Tỳ Vị Luận).

+ Chữa ho viêm họng rát họng: Kha tử 1 - 2 trái rủa sạch lấy phần vỏ nhai ngậm dần nuốt nước (Kinh Nghiệm Nhân Gian).

+ Chữa ngộ độc do thức ăn nhiễm khuẩn, ỉa chảy mãn tính, lỵ mãn tính có sốt: Kha tử nướng chín bỏ hạt 8g, Hoàng liên 5g, Mộc hương 5g làm bột mịn. Chia làm 3 lần uống trong ngày, chiêu với nước sôi để nguội.

+ Trị sâu quảng, vết thương lõm vào: Giáng hương 4g, Kha tử 20 hạt, Ngũ bội tử 20g, Thanh đại 4g. Tán bột trộn với dầu mè bôi (Kha Tử Tán – Chứng Trị Chuẩn Thằng).