Ngải Cứu

Ngải Cứu

Trang chủ Ngải Cứu


1. Ngải Cứu: (Folium Artemisiae Argyi)

+ Tên khác: Ngải diệp, Thuốc cứu, Điềm ngải (Bản thảo cầu nguyên), Nhã ngãi, Băng đài, Y thảo, Chích thảo, Kỳ Ngải cứu, Ngải nhung, Trần ngải nhung, Hỏa ngải, Ngũ nguyệt ngải, Kỳ ngải thán, Ngải y thảo, Hoàng thảo (Cương mục), Ngải cảo (Nhĩ nhã, Quách phác chú), Bán nhung, Bệnh thảo, Thổ lý bỉnh phong (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Cây thuốc: Loại cây thảo sống lâu năm, thân khỏe, cao 56-60cm, có rãnh, lá xẻ lông chim có lông trắng ở mặt dưới, mầu trắng tro, mặt trên nhẵn, màu lục sẫm, lá có mùi thơm. Hoa mọc thành chùy kép, gồm rất nhiều cụm hoa hình đầu.

+ Dược liệu: Lá phơi khô nhìn quăn queo, mầu xám hơi xanh.

+ Phân bố: Mọc nhiều nơi ở Việt Nam và ở  nhiều nước khác châu Á.

+ Xuất Xứ: Việt Nam.

+ Bộ phận dùng: Cành, lá.

2. Thu hái - sơ chế:

+ Hái cành và lá vào tháng 6 (tương ứng với ngày 5-5 âm lịch). Phơi khô trong râm cho khô. Khi hái về, phơi khô, tán nhuyễn, rây lấy phần lông trắng và tơi, gọi là Ngải nhung, dùng làm mồi cứu.

3. Bào chế - bảo quản:

Bào chế:

+ Không bào chế cầu kỳ.

Bảo quản:

+ Để nơi khô dáo, tránh ẩm , mốc.

4. Thành phần:

+ Folium Artenesiae Vulgaris: Thujone, Sitosterol, a-Amyrin, Ferneol, Dehydromatricaria ester, Cineol, l-Quebrachitol, l-Inositol, Atemose (Trung Dược Học).

+ Phellandrene, Cadiene, Thujyl alcol (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược).

5. Tính vị - quy kinh:

Tính vị: 

+ Vị đắng, cay và tính ẩm.

Quy kinh: 

+ Vào kinh tỳ, thận, phế (Bản thảo tân biên)

+ Vào kinh tâm, thận (Bản thảo tái tân)

6. Tác dụng - chủ trị:

Tác dụng dược lý:

+ Tác dụng kháng khuẩn: Nước  sắc Ngải cứu in vitro có tác dụng ức chế đối với Staphylococcus aureus, a-Hemolytic Streptococcus, Streptococcus pneumniae, Shigella sonnei, Salmonella typhi và Salmonella paratyphi (Trung Dược Học).

+ Tác dụng cầm máu: Nước ngâm kiệt Ngải cứu cho thỏ uống, có tác dụng rút ngắn thời gian đông máu. Chích vào ổ bụng hoặc tĩnh mạch chuột nhắt đều có tác dụng làm giảm tính thẩm thấu của mao mạch (Trung Dược Học).

+ Tác dụng kháng khuẩn: Nước sắc Ngải cứu trong ống nghiệm có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, liê cầu anpha dung huyết, phế song cầu khuẩn, trực khuẩn bạch hầu, trực khuẩn lỵ Sonner, trực khuânt hương hàn và phó thương hàn, khuẩn thổ ta và nhiều loại nấm gây bệnh. Khói lá Ngải xông trong không khí có thể làm cho các khuẩn lạc giảm 95-99,8%. Cấy khuẩn làm mủ thông thường vào 1 bình cấy rồi xông khói Ngải trong 10 phút, toàn bộ vi khuẩn không sinh trưởng được. Khói của Ngải cứu có tác dụng ức chế các loại virus như quai bị, cúm, Rhinovirus, Adenovirus, virus mụn phỏng … (Trung Dược Học).

+ Tác dụng giảm ho: Dầu Ngải cứu thụt vào dạ dày hoặc chích vào ổ bụng, có tác dụng giảm ho đối với súc vật thí nghiệm như mèo, chuột, chuột lang (Trung Dược Học).

+ Tác dụng hoá đờm: Dầu Ngải cứu bơm vào dạ dày, chích dưới  da hoặc chích vào ổ bụng đều có tác dụng hoá đờm đối với thỏ và chuột nhắt. Thuốc có tác dụng trực tiếp lên phế quản, kích thích xuất tiết (Trung Dược Học).

+ Dầu Ngải cứu có tác dụng an thần của Barbital sodium (Trung Dược Học).

+ Tác động đối với tử cung: Chích hoặc  uống Ngải cứu gây nên co bóp mạnh tử cung heo (Thực Dụng Trung Y Học).

Tác dụng:

+ Lý khí huyết, đuổi hàn thấp, ấm kinh, ngừng máu, an thai. Trị tâm bụng lạnh đau, tiết tả, chuyển gân, lỵ lâu, nôn máu, máu cam, ỉa máu, kinh nguyệt không đều, băng lậu, khí hư, thai động không yên, ung nhọt lở loét, ngứa ghẻ.

+ Chủ cứu 100 bệnh, có thể làm thuốc sắc ngừng đi lỵ, nôn máu, vùng hạ bộ lở loét, đàn bà lậu huyết, lợi âm khí, sinh cơ nhục, tránh phong hàn. (Biệt lục)

+ Giã lá để cứu trăm bệnh, ngừng máu tổn thương, nước lại giết gin đũa, rượu đắng sắc lá chữa ngứa. (Đào Hoằng Cảnh)

+ Ngừng băng huyết, an thai, ngừng đau bụng, ngừng lỵ đỏ trắng cùng 5 tạng bị trĩ ra máu, ỉa máu uống lâu ngừng lỵ lạnh. Lấy lá giã nước uống trừ khí xấu tâm bụng. (Dược tính luận)

Ôn trung, đuổi lạnh, trừ thấp. (Cương mục)

    Chủ trị:

    + Chủ trị ra máu, máu cam, lỵ ra máu mủ, sắc nước cùng hoàn tán dùng. (Đường bản thảo).

    + Trị vết đâm chém, băng huyết miệng nôn trôn tháo, ngừng thai lậu. (Thực liệu bản thảo)

    + Ngừng hoặc loạn chuyển gân, trị đau tâm, mũi đỏ kiêm ra khí hư. (Nhật Hoa tử bản thảo)

    + Trị hầu họng bế tắc, nóng đau, ăn uống có trở ngại, giã nước ngậm nuốt. (Lý tàm nham bản thảo)

    + Trị mạch đới gây bệnh, bụng chướng đầy, eo lưng lạnh như ngồi trong nước. (Vương Hiếu Cổ).

    7. Kiêng kỵ:

    + Phụ nữ có thai, người bị dị ứng, đang dùng thuốc khác nêncẩn thận khi dùng.

    8. Một số cách dùng thông dụng:

    + Trị phụ nữ tử cung lạnh, huyết trắng (đới hạ), tay chân đau nhức, ăn uống ít, kinh nguyệt không đều, bụng đau, khó thụ thai: Bạch thược 120g, Đương quy 120g, Hoàng kỳ 120g, Hương phụ 240g, Ngải cứu 120g, Ngô thù du 120g, Quan quế 20g, Sinh địa 40g, Tục đoạn 180g, Xuyên khung 120g. Làm hoàn, mỗi ngày uống 12-14g/3 lần. (Ngải Phụ Noãn Cung Hoàn – Thẩm Thị Tôn Sinh Thư).

    + Trị kinh nguyệt ra nhiều, rong huyết do huyết hư: Ngải cứu 12g, Sinh địa 10g, Đương quy 10g, Bạch thược 5g, Xuyên khung 3g. Sắc với 800ml nước còn 300ml, lọc bỏ bã, thêm 12g A giao vào quấy đều, chia 3 lần uống trong ngày. (Giao Ngải Thang).

    + Trị tử cung lạnh làm cho vô sinh: Bạch thược, Đương quy, Hương phụ, Ngải cứu, Thục địa, Xuyên khung. Tùy chứng gia giảm. Tán bột làm viên, ngày uống 12 – 16g. (Ngải Phụ Noãn Cung Hoàn II – 380 Bài Thuốc Hiệu Nghiệm Đông Y).

    + Trị phụ nữ bị các chứng hư, kinh nguyệt không đều, đau nhói do khí huyết, bụng sườn đầy trướng: Đương quy, Ngải cứu đều 80g, Hương phụ 240g. Sắc uống. (Ngải Tiễn Hoàn).