Ngô công

Ngô Công

Trang chủ Ngô Công


1. Ngô Công: (Scolopendra)

+ Tên khác: Con rết, Tức thư, Ngô công, Thiên long, Bá cước, Ngao cao mỗ.

+ Con Rết: Rết là loài động vật thân đốt, thon dài, dẹt, mỗi đốt có một đôi chân. Số lượng chân của mỗi loài rết rất đa dạng, từ dưới 20 cho đến 300 chân. Số cặp chân rết luôn là số lẻ. Rết có một cặp kìm ở miệng có thể tiết  nọc độc vào kẻ thù, được hinh thành từ một cặp phần phụ của miệng, Rết có nhiều mắt đơn trên phần đầu và đôi khi chúng tập trung thành cụm để trở thành mắt kép. Hầu hết các loài rết là động vật ăn thịt. Có hơn 8000 loài rết, hơn 3000 loài đã được mô tả.

+ Dược liệu: Ngô công là con rết. Nên chọn nguyên con, khi bắt được rết tẩm rượu phơi khô hoặc ngâm rượu để dùng. Nên chọn con dài 7 - 15cm đầu vàng, lưng đen, chân bụng đỏ vàng là tốt. Ngày dùng 2 - 6g.

+ Phân bố: Con Rết sống hoang khắp nơi ở nước ta, tìm thấy nhiều ở dưới các khúc gỗ mục, hòn đá, mái nhà mục nát. Ở Trung quốc và Triều tiên người ta nuôi rết để dùng làm thuốc và xuất khẩu. Chọn những con to béo chân đỏ nâu là tốt.

+ Xuất xứ: Trung Quốc.

+ Bộ phận dùng: Lau sạch, bỏ đầu đầu chân, cắt ngắn dùng.

2. Thu hái - sơ chế:

+ Rết dùng làm thuốc được bắt vào mùa xuân hoặc mùa hè, được duỗi thẳng bằng que nứa xuyên từ đầu đến đuôi đem phơi hoặc sấy khô. Sau đó, sẽ loại bỏ que nứa, rửa sạch sao cho nóng nhẹ đến khi có màu vàng, cắt thành miếng nhỏ.

3. Bào chế - bảo quản:

Bào chế:

+ Ngô công nướng rượu: Lấy ngô công bỏ đi chân, cắt ngắn, sau khi thấm rượu, lửa nhỏ sấy khô.

+ Lôi Công bào chích luận: Phàm sử dụng Ngô công, trước lấy ngọn cây gổ hoặc ngọn cây liễu mọt sao trong nồi đất, sao cho cây nhỏ cháy sém đen, bỏ ngọn cây, bỏ chân, giáp dùng.

+ Cương mục: Ngày nay người ta chỉ nướng lửa, bỏ đầu chân dùng, hoặc bỏ đuôi chân, lấy lá Bạc hà nướng lửa dùng vậy. 

Bảo quản: Để  nơi khô ráo.

4. Thành phần:

+ Toàn con Rết có 2 loại nọc độc giống như nọc độc của con ong, tức là giống như chất Histamin và Protid tán huyết. Ngoài ra, còn có Delta-Hydroxylysine, Taurine, acid amin, dầu mỡ, Cholesteron. Formic acid, Delta-Hydoxylysine, Histidine, Arginine, Ornithine, Lysine, Glycine, Alanine, Valine, Tyrosine, Leucine, Phenylanine, Serine, Taurine, Glutamine. Myrisitc acid, Palmitic acid, Oleic acid, Linoleic acid, Arachidic acid, Palmitoleic acid.

5. Tính vị - quy kinh:

Tính vị: 

+ Vị cay, tính ấm, có độc.

Quy kinh: 

+ Vào kinh can.

6. Tác dụng - chủ trị:

Tác dụng dược lý:

+ Tác dụng chống u bướu (tumor): Dịch chích Ngô công Thủy điệt có thể làm tế bào sinh tinh (spermatogenous cell) của chuột bạch con phát sinh họai tử và tiêu mất, chứng tỏ có tác dụng ức chế tế bào u bướu; lợi dụng đặc điểm tế bào ung thư chết dễ bị dễ bắt màu eosin nồng độ thấp, chứng minh thực nghiệm ngòai cơ thể, dịch tiêm Ngô công Thủy điệt đối với tế bào ung thư nhuộm đỏ là dương tính.

-  Ngô công Thủy điệt ức chế đối với thể gan ung thư chuột bạch con tỉ suất là 26%, thuộc hiệu quả nhỏ, có tác dụng tăng cường đối với cơ năng tế bào nội bì hình lưới, nhưng ứng dụng lâu dài có tổn thương gan.

-  Hóa nham đơn (Trong có Côn bố, Hải thảo, Long đởm thảo, Tòan yết, Ngô công, gạo giấm sao v.v...) có tác dụng ức chế đối với ung thư bụng nước Ehrlich (Ehrlich ascites carcinoma) chuột bạch con. Phép dùng rót vào dạ dày so với phương pháp thuốc trộn vào trong thức ăn cho ăn hiệu quả tốt hơn.

+ Tác dụng chống co giật:

- Chỉ kinh tán (Tòan yết, Ngô công) mỗi ngày 1g, sau khi uống liền 1, 3, 9 ngày, đối với nửa số lượng co giật của cardiazol, strychnine, nicotine thuần gây ra chuột con co giật đều có tác dụng chống lại, cùng lượng thuốc hiệu quả chống co giật của Ngô công chống lại 3 thuốc nói trên cao hơn so với Tòan yết, mà đối với co giật hydrochloride cocaine thì vô hiệu.Tác dụng chống nấm (chân khuẩn) (epiphyte):

- Thuốc ngâm Ngô công nước (1: 4), trong ống nghiệm đối với chân khuẩn da như mao tiển khuẩn (trichophyta) màu hoa tím, hòang tiển khuẩn (achorion) họ Hứa Lan, khuẩn nấm tiểu bào tử họ Áo Đổ Áng, khuẩn nấm biểu bì ở háng, khuẩn nấm biểu bì sắc đỏ, nha sinh khuẩn (blastomyces) bắt màu chặt v.v…có tác dụng bất đồng trình độ (Trung dược đại từ điển)..

+ Phản ứng không tốt:

- Ngô công dùng liều quá lớn có thể gây ra trúng độc, biểu hiện trúng độc là: lợm lòng, nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy, bất tỉnh nhân sự, tim đập hõan chậm, hô hấp khó khăn, nhiệt độ cơ thể hạ thấp, huyết áp hạ v.v…Lúc phản ứng xuất hiện tan huyết, nước tiểu có màu nước tương, bài tiết phân đen, và đồng thời xuất hiện triệu chứng thiếu máu tính tan máu. Người xuất hiện dị ứng, tòan thân nổi chẩn da tính dị ứng, nghiêm trọng xuất hiện choáng ngất dị ứng. Riêng có người uống Ngô công bột gây tổn hại công năng gan và suy kiệt công năng thận cấp tính.

- Nguyên do trúng độc: Một là dùng liều quá lớn, hai là người thể chất dị ứng xuất hiện phản ứng dị ứng. Vì thế nắm vững chặc chẽ liều dùng, chú ý thể chất khác biệt, người thể chất dị ứng chớ dùng.

Tác dụng:

+ Trừ phong, trấn kinh, giải độc rắn cắn, chỉ thống.

    Chủ trị:

    + Trị kinh giản, co giật, uốn ván rốn, cấm khẩu, tràng nhạc, chốc đầu, sưng tấy, rắn cắn.

    7. Kiêng Kỵ:

    + Phụ nữ có thai không dùng.

    8. Một số cách dùng thông dụng:

    + Trị trẻ em co giật, uốn ván, động kinh, liệt dây thần kinh mặt: 

    - Ngô công, Toàn yết, Chu sa lượng bằng nhau tán bột mịn, mỗi lần uống 0,5 - 1,5g với nước ấm. Trị trẻ em quấy khóc, chân tay co giật.

    - Ngô công tán: Ngô công, Chế Nam tinh, Phòng phong, Bong bóng cá lượng bằng nhau tán bột mịn, mỗi lần uống 2 - 4g với rượu trị uốn ván.

    + Trị uốn ván: Khương hoạt, Xuyên khung, Đại hoàng, Bán hạ, Phòng phong, Chế Xuyên ô, Cương tàm, Chế Nam tinh, Bạch chỉ đều 10g, Ngô công 3 con, Xác ve 10g, Bạch phụ tử 12g, Toàn yết 10g, Thiên ma 10g, Cam thảo 10g, mỗi thang sắc còn 600ml. Ngoài ra Hổ phách, Chu sa mỗi thứ 3g tán bột mịn chia làm 3 bao. Mỗi lần uống nước sắc còn 200ml, một bao thuốc bột, cách 6 - 8giờ uống một lần. .

    + Đau nhức tê thấp, trẻ em cấm khẩu không bú được: có kinh nghiệm dùng rết khô bỏ đầu chân tán bột mịn trộn với lượng tương đương bột Cam thảo hồ làm viên. Mỗi lần uống 0,5g, ngày uống 3 lần. 

    + Trị liệt mặt. Bạch chỉ 20g, Nam tinh 3 hột Ngô công 3 con Ngô công: 1 con nướng với mật, 1 con tẩm rượu, 1 con nướng. Nam tinh, mỗi hột bổ ra làm 4 miếng, bỏ 1 miến đi, còn lại 3, bào chế giống chế Ngô công bên trên. Tán bột. Cho ít Xạ hương vào, trộn đều. Uống 4g với rượu chưng, sau bữa ăn. 

    + Trị mụn nhọt: Dầu rết: Rết sống 8 phần, muối ăn 2 phần, ngâm vào dầu vừng (mè) trong 2 tuần, lấy dầu bôi mụn lở, trị trẻ em chốc đầu, bôi trị rắn cắn.

    Cả con rết ngâm rượu 90độ bôi mụn nhọt.

    Ngô công sống 2 con, ngâm vào cồn 75% 500ml, gia thêm Hồng hoa trong 7 ngày, lấy bôi lên vùng sưng tấy, theo dõi 600 ca kết quả tốt .

    + Trị hạch lâm ba hàm mặt:  Khoa Răng Hàm Mặt Bệnh viện Hữu nghị Bắc kinh dùng Ngô công sao vàng tán bột mịn, người lớn uống 3 - 9g, trẻ em giảm liều, thuốc sắc uống. Đã theo dõi 226 ca có kết quả nhất định

    + Trị lao khớp: Kết hạch tán: Ngô công 6g, Toàn yết 9g, Thổ miết (yếm ba ba) 9g, tán bột mịn, mỗi lần uống 3g chưng với trứng gà.

    + Trị ung thư: Ngô công tán bột, mỗi lần uống 1,5-3g, chưng với trứng gà. Trị ung thư gan sưng đau.

    Ngô công 20 con, Hồng hoa 6g, rượu trắng 60 độ 500ml, ngâm 26 ngày uống với nước sôi nguội (tỷ lệ 6:4) hòa loãng. Trị ung thư dạ dày, thực quản.

    + Một số bài thuốc có ngô công:

    - Ngô Công Khiên Chính Ẩm (Thiên Gia Diệu Phương, Q. Thượng.Lý Văn Lượng) Khu phong, tán hàn, thông kinh, hoạt lạc, trị thần kinh mặt đau.

    - Thần Công Tử Hà Đơn (Ngự Dược Viện. Hứa Thúc Trinh) Trị mụn nhọt.