Nha Đảm Tử

Thương hiệu: Đang cập nhật

Tình trạng: Còn hàng

Liên hệ
1. Nha Đảm Tử: ( Fructus Bruceae ). + Tên khác: Khổ sâm tử, Lão nha đởm,  Nha đởm, Khổ tần tử,  Xoan rừng,  Áp noãn tử, Nha đởm tử, Giải khổ sâm, Tiểu cát luyện + Cây thuốc: Cây sầu đau nhỏ, chỉ cao độ 1.6-2.5m là cùng, thân yếu không cành gỗ và không to như cây xoan làm nhà. Lá xẻ lông chim không đều, 4-6 đôi lá chét. Hoa nhỏ khác gốc, mọc thành chùm xim.   + Dược liệu: Nha đảm tử hình tròn, dài hoặc hình trứng, 2 đầu hơi nhọn, dài 0,5-1cm, đường kính 0,3-0,6cm. Bên ngoài mầu đen tro,...

1. Nha Đảm Tử: ( Fructus Bruceae ).

+ Tên khác: Khổ sâm tử, Lão nha đởm,  Nha đởm, Khổ tần tử,  Xoan rừng,  Áp noãn tử, Nha đởm tử, Giải khổ sâm, Tiểu cát luyện

+ Cây thuốc: Cây sầu đau nhỏ, chỉ cao độ 1.6-2.5m là cùng, thân yếu không cành gỗ và không to như cây xoan làm nhà. Lá xẻ lông chim không đều, 4-6 đôi lá chét. Hoa nhỏ khác gốc, mọc thành chùm xim.


 

+ Dược liệu: Nha đảm tử hình tròn, dài hoặc hình trứng, 2 đầu hơi nhọn, dài 0,5-1cm, đường kính 0,3-0,6cm. Bên ngoài mầu đen tro, có mạng vân hình nhiều cạnh không đều, dưới đáy có vết cuống quả lõm xuống. Vỏ ngoài cứng dòn, bổ ra bên trong mầu đỏ tro hoặc vàng tro, trơn bóng láng dầu, trong có nhân mầu trắng vàng, hình trứng, dài 0,3-0,6cm, đường kính 0,3-5cm, ngoài bọc màng mỏng nhăn, có nhiều dầu. Không mùi, vị rất đắng.

+ Phân bố: Nha đảm tử mọc hoang ở nhiều nơi khắp các tỉnh miền núi nước ta, từ bắc trí năm, đặc biệt là các tỉnh miền trung, Tây nguyên có rất nhiều cây thuốc này.

+ Xuất xứ: Trung Quốc.

+ Bộ phận dùng: Quả đã phơi hay sấy khô cây Xoan rừng (Brucea javanica Merr.), họ Thanh thất (Simaroubaceae).

2. Thu hái - sơ chế:

+ Hàng năm, từ tháng 9 đến tháng 11 hàng năm là mùa thu hái quả nha đảm tử. Quả thu hái về chỉ việc phơi hoặc sấy khô, bảo quản dùng dần làm thuốc mà không phải chế biến cầu kỳ.

3. Bào chế - bảo quản:

Bào chế: Không cần chế biến cầu kỳ.

Bảo quản: Chống mối mọt.

4. Thành phần:

+ Trong quả nha đảm tử có 23% dầu. Dầu lỏng, màu trắng, ngoài ra còn có một glucozit gọi là koámin, chất tamin, chất quasin và một chất saponin. Chất koámin có tác dụng diệt trùng rõ ràng. Liều nhỏ gây nôn diệt giun sán, liều cao thì độc, làm tim đập chậm, nôn ra mật và máu, đi ỉa lỏng và có thể chết được. Máu người bị ngộ độc đen, không đông được, hồng cầu phồng lên, vón lại, ống tiêu hóa và màng não bị viêm.

5. Tính vị- quy kinh:

Tính vị:

+ Sách Y học Trung trung tham tây lục: Vị rất đắng, tính lương.

+ Sách Bản thảo chính nghĩa: Đại khổ, đại hàn.

Quy kinh: Vào Can và Đại tràng.

6. Tác dụng - chủ trị:

Tác dụng dược lý:

+ Tác dụng diệt amip dạng hoạt động (nguyên trùng), invitro và invivo đều có tác dụng. Nhưng đối với lị mạn tính và lị trực khuẩn tác dụng kém hơn. Thuốc có tác dụng tẩy giun đũa, giun móc, sán, hấp huyết trùng, trùng roi trichomonas.

+ Tác dụng chống sốt rét: Trên súc vật thực nghiệm, thuốc có tác dụng ức chế sự sinh trưởng của nguyên trùng sốt rét trong gà.

+ Tác dụng kháng virut: Thuốc có tác dụng ức chế virut cúm típ A PR8.

+ Tác dụng chống tế bào ung thư.

+ Nha đảm tử tương đối độc, độc tính chủ yếu là phần đắng hòa tan trong nước. Liều dùng 50 của nước sắc là 0,48g/kg. Thuốc dùng ngoài da dễ gây phản ứng, tại chỗ mạnh ở da và niêm mạc. Thuốc uống thường gây đau bụng, khó chịu, nôn, buồn nôn, tiêu chảy, đầy bụng, váng đầu, rã rời chân tay. Tỷ lệ gây nhiễm độc thuốc khoảng 78,3%, còn có thể gây xung huyết nội tạng và xuất huyết, rối loạn hô hấp, khó thở. Thời gian dùng thuốc kéo dài có tích lũy độc. Không nên dùng với người có bệnh đường ruột, chức năng gan thận giảm, phụ nữ có thai và trẻ em.

Tác dụng:

+ Ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư, ngăn chặn Ung thư di căn (Theo Trung dược học )

+ Điều trị sốt rét.

+ Điều trị bệnh lỵ

+ Sát trùng, điều trị tiêu chảy lâu ngày không khỏi.

Chủ trị: Chữa lỵ amip, sốt rét, viêm ruột, trĩ ngoại, trị nhiệt tính xích lỵ, trị tiêu tiểu ra máu do nhiệt.

7. Kiêng kỵ:

+ Tỳ Vị hư yếu, nôn mửa: Không dùng

+ Nha đảm tử có độc, uống quá liều có thể gây đau bụng, nôn mửa, kém ăn, người mệt. Khi thụt thì ít hiện tượng độc hơn. Dùng uống với liều kể trên thường không xảy ra hiện tượng độc nào, hoặc chỉ thấy nôn nao, buồn nôn. Ngừng thuốc sẽ hết ngay.

8. Một số cách dùng thông dụng:

+ Trị lỵ amíp cấp: Nha đảm tử 12 cái bọc nhựa chia 3 lần uống trong ngày, đồng thời dùng 20 hạt ngâm trong 200ml nước sau 2 giờ (ngâm vào 200ml dung dịch 1% natri bicacbonat sau 1 giờ đến 2 giờ thụt rửa đại tràng, mỗi ngày 1 lần, 10 ngày là một liệu trình. Trị 65 ca, kết quả trước mắt 94% (Tạp chí Trung y 1956,1:6).

+ Trị sốt rét: Nha đảm tử nhân đã khử dầu tán nát, mỗi lần 12 hạt viên bọc nhựa, ngày uống 3 lần, uống trước bữa ăn, đã chữa 27 ca kết quả tốt (Báo Y dược học 1952,1:28). Có tác dụng đối với các loại ký sinh trùng sốt rét, đối với loại cách nhật là tốt hơn cả. Có tác giả báo cáo kết quả chống sốt rét không chắc chắn, hiện ít dùng.

+ Trị mụn cóc: Dùng nhân Nha đảm tử tiệt trùng bằng cao áp nghiền nhỏ đắp (trước khi đắp nên rửa bằng cồn hoặc cồn iod, dùng dao vô trùng rạch nhẹ da chảy tí máu), dán băng kín kiêng nước, sau 8 ngày mở ra, nếu chưa rụng bôi cao mềm acid boric, đã trị khỏi 200 ca không để sẹo (Tạp chí trung hoa bì phu khoa 1957, 4:360).

+ Trị nốt ruồi: dùng Nha đảm tử cả vỏ (lượng 3-5g giã nát vụn bỏ vào lọ, cho vào một dung tích cồn 75% bằng lượng thuốc ngâm một ngày đêm, thuốc thấm với tăm bông bôi vào nốt ruồi, ngày 2 - 3 lần, kết quả tốt (Trung dược thông báo 1986, 9:59).

+ Trị chai chân: Dùng 11 - 13 nhân Nha đảm tử giã nát trộn với 1,5g bột Salicylate cho đều, cho thuốc vào băng keo, cắt thủng 1 lỗ bằng vùng bị chai một miếng băng keo khác dán lên chỗ chai rồi dán thuốc vào, cứ 10 ngày thay một lần, đã trị 2040 ca kết quả đều tốt (Tạp chí Trung y Triết giang 1984,4:166).

+ Trị ung thư: dùng dầu Nha đảm tử chế thành thuốc tiêm tĩnh mạch đã thử nghiệm dược lý trên cơ thể nhận thấy thuốc có tác dụng đối kháng với nhiều loại tế bào ung thư. Theo kết quả báo cáo của 16 đơn vị đã dùng trị 388 ca ung thư thời kỳ giữa và cuối, tỷ lệ có kết quả 71,6%. Đối với ung thư thực quản, dạ dày, trực tràng, cổ tử cung có kết quả nhất định, đối với ung thư phổi đã di căn lên não có tác dụng kéo dài tuổi thọ. Thuốc còn có tác dụng miễn dịch và làm tăng tế bào bạch cầu (Trung quốc y dược báo 1985).