Qua lâu nhân

Qua Lâu Nhân

Trang chủ Qua Lâu Nhân


1. Qua Lâu Nhân: (Semen Trichosanthis )

+ Tên khác: Qua lâu thực, Qua lâu tử, Dưa trời, Dưa núi,Vương qua, Dây bạc bát, Hoa bát, Vương qua,  Bát bát trâu,  người Tày gọi là Thau ca.

+ Cây thuốc: Qua lâu nhân là hạt của cây Qua lâu, một cây thảo leo sống nhiều năm, thân có rãnh, tua cuốn có 2-3 (-5) nhánh. Lá mọc so le, phiến dài 5-14cm, rộng 3-5cm, chia 3-5 thuỳ, dày, dai, mặt trên nhám nhám. Cây có hoa khác chỗ, chùm hoa đực dài 15cm, lá bắc to có răng, hoa rộng 7cm, màu trắng, cánh hoa cao 2,5cm, nhị 3. Hoa cái mọc đơn độc, bầu có cuống, dài 3cm. Quả mọng tròn, to 9-10cm, màu vàng cam; hạt tròn dẹp, dài 11-16mm, rộng 7-12mm, trong có lớp vỏ lụa màu xanh. Ra hoa tháng 6-8, có quả tháng 9-10.

+ Dược liệu: Vị thuốc Qua lâu nhân là hạt của quả cây Qua lâu. Hạt hình bầu dục dẹp, phẳng, dài 12 – 15 mm, rộng 6 – 10 mm, dày 3,5 mm. Mặt ngoài màu nâu nhạt đến nâu thẫm, trơn nhẵn. Xung quanh mép hạt có rãnh tròn. Đỉnh hạt tương đối nhọn, có rốn hình điểm, lõm xuống. Đáy hạt tròn tù. Vỏ hạt ngoài cứng, vỏ hạt trong là màng mỏng, màu lục xám, bọc lấy 2 lá mầm dày, màu trắng vàng, chứa nhiều dầu. Mùi nhẹ. Vị hơi ngọt dịu, hơi đắng.

+ Phân bố: Qua lâu sinh sống tại Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc trên đất rừng bên khe hay mé đường vùng núi Cao Bằng và cùng mọc trên đất cát hoang ở Ninh Thuận, Bình Thuận.

+ Xuất xứ: Hắc Long Giang, Trung Quốc.

+ Bộ phận dùng: 

Nhân của quả chín gọi là Qua lâu nhân (Semen Trichosanthis). Nên chọn hạt già phơi khô hạt chắc vỏ dày không mối mọt là được

- Vỏ quả gọi là Qua lâu bì (Pericarpium Trichosanthis).

- Rễ gọi là Thiên hoa phấn.

- Dùng cả nhân và vỏ gọi là Toàn qua lâu.

2. Thu hái - sơ chế:

Quả Qua lâu thu hoạch vào mùa thu, phơi trong bóng râm, đập nhẹ cho vỏ tách đôi, bỏ vỏ lấy nhân.

3. Bào chế - bảo quản:

Bào chế:

+ Theo Trung Y:

- Dùng vỏ quả. Qua lâu thì nhân, hột và rễ đều dùng làm thuốc nhưng tác dụng khác nhau.

- Dùng hột thì bẻ vỏ cứng và màng mỏng ép bỏ dầu mà dùng (Lôi Công Bào Chích Luận).

+ Theo kinh nghiệm Việt Nam:

- Đập nhẹ cho vỏ tách đôi, bỏ vỏ lấy nhân, giã nát (dùng sống) để trừ nhiệt.

- Có thể tẩm mật ong sao qua (bổ Phế) để khỏi rát cổ (dùng chín).

+ Muốn làm nhanh thì lấy hột sao qua, chà hoặc giã cho nát vỏ lấy nhân rồi làm như trên.

Bảo quản:

+ Để nơi khô ráo, mát, tránh nóng nhân sẽ bị đen.

4. Thành phần:

+ Theo sách Trung dược học:

- Quả Qua lâu có saponin, triterponoid, acid hữu cơ, resin, chất đường, sắc tố và dầu béo.

- Qua lâu nhân (semen Trichosanthis) có dầu béo, trong đó có nhiều loại cholesterol.

- Qua lâu bì (pericarpium trichosanthis) có nhiều loại amino acid và chất giống alkaloid.

- Trong rễ Qua lâu (Thiên hoa phấn) có rất nhiều tinh bột. Viện Y học Bắc kinh nghiên cứu thấy trong Thiên hoa phấn có chừng 1% saponozit. 

5. Tính vị- quy kinh:

Tính vị:

Vị ngọt, hơi đắng, tính hàn.

Quy kinh:

+ Vào các kinh Phế, Vị và Đại trường.

6. Tác dụng - chủ trị:

Tác dụng dược lý:

+ Triterpenoid saponin có tác dụng khu đàm.

- Qua lâu nhân có nhiều dầu béo nên có tác dụng gây xổ mạnh.

- Qua lâu bì tác dụng nhẹ.

- Qua lâu sương thì có tác dụng hòa hoãn hơn.

 + Thuốc có tác dụng giãn động mạch vành rõ rệt, gia tăng lưu lượng máu của động mạch vành, chống thiếu oxy và hạ mỡ máu. Invitro.

+ Thuốc có tác dụng ức chế trực khuẩn đại tràng, trực khuẩn lî sonnei, trực khuẩn biến dạng, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn mủ xanh, phẩy khuẩn thổ tả và nấm gây bệnh ngoài da.

+ Thuốc có tác dụng chống hoạt tính ung thư. 

Tác dụng:

 + Thanh nhiệt hoá đàm, nhuận phế, chống ho, nhuận tràng

Chủ trị:

Chữa ho lâu ngày, ho có đờm, sưng yết hầu, nhuận tràng.

7. Kiêng kỵ:

Tỳ Vị hư hàn không nên dùng. Dùng nhiều sinh ra tiêu chảy.

8. Một số cách dùng thông dụng:

+ Trị động mạch vành: Qua lâu nhân chế thành viên dùng, ngày 3 lần mỗi lần 4 viên (lượng thuốc mỗi ngày tương đương với 31,2g thuốc sống, cá biệt bệnh nhân có cơn đau thắt ngực dùng Nitroglycerine hoặc Quan tâm tô hợp hoàn (thành phẩm)). Đã trị 100 ca và theo dõi từ 2 tuần đến 14 tháng. Có kết quả lâm sàng (triệu chứng giảm) 76% kết quả điện tâm đồ 52,9% (Tổ phòng trị bệnh động mạch vành - Bệnh viện Nhân dân số 3, trực thuộc Học viện Y số 2 Thượng hải, Tạp chí Tân y dược học 1974,3:20). Báo cáo của 13 Bệnh viện ở Thượng hải dùng dịch chích Qua lâu trị 413 ca bệnh mạch vành, kết quả lâm sàng 78,1%, kết quả điện tâm đồ 56% (Thông tin Trung thảo dược 1976,9:47).

+ Trị viêm phế quản thể đàm nhiệt, ngực đau do đàm vàng hoặc ápxe phổi: Tiểu hãm hung thang (Thương hàn luận): Qua lâu thực 12g, Bán hạ 10g, Hoàng liên 4g, sắc uống. Toàn qua lâu, Ý dĩ nhân đều 15g, Cát cánh 10g, Kim ngân hoa 10g, Bồ công anh 12g, sắc uống. Bài này trị ápxe phổi có kết hợp trụ sinh kết quả tốt.

+ Trị viêm tuyến vú cấp: sưng nóng đỏ đau sốt. Toàn qua lâu, Kim ngân hoa, Bồ công anh đều 15g sắc uống kết hợp rút ngắn thời gian điều trị. 

+ Trị táo bón: Qua lâu thực 15g, Cam thảo 3g, sắc uống, có thể hòa thêm ít mật ong.

+ Trị da sạm: Thiên hoa phấn 16g giã nhỏ, thêm nước đun sôi để nguội lọc nước uống.

+ Trị trẻ em vàng da: Thiên hoa phấn giã nhỏ, cho nước đun sôi để nguội gạn nước uống. Có thể thêm mật ong cho dễ uống.

+ Trị phụ nữ cho con bú ít sữa: Thiên hoa phấn đốt tồn tính tán nhỏ ngày uống 16 - 20g.

+ Trị viêm họng mất tiếng: Qua lâu bì, Bạch cương tằm, Cam thảo đều 10g, Gừng tươi 4g, nước 500ml sắc còn 150ml chia 2 lần uống trong ngày.

+ Chữa đái tháo đường: Rễ qua lâu 8g; thục địa, hoài sơn mỗi vị 20g; đơn bì, kỷ tử, thạch hộc mỗi vị 12g; sơn thù, sa nhân mỗi vị 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Hoặc rễ qua lâu 12g, rau bợ nước 10g, phơi khô, tán nhỏ, hòa với sữa uống.

+ Chữa sốt rét, thể rét nhiều, sốt ít hoặc không sốt: Rễ qua lâu 8g; mẫu lệ 12g; sài hồ, quế chi, hoàng cầm mỗi vị 8g; can khương, cam thảo mỗi vị 6g. Sắc uống.

+ Chữa thấp khớp mạn: Rễ qua lâu, thổ phục linh, cốt toái bổ, thạch cao, kê huyết đằng, đơn sâm, sinh địa, rau má, uy linh tiên, hy thiêm, khương hoạt, độc hoạt mỗi vị 12g; bạch chỉ 8g; cam thảo 4g. Sắc uống trong ngày.