Quế Chi

Quế Chi

Trang chủ Quế Chi


1. Quế Chi: (Ramulus cinnamoni.)

+ Tên khác: Ngọc Thụ,Quế đơn, Quế bì, Quế Trung Quốc, Nhục quế, Mạy quẻ (Tày), Kía (Dao), Quế thanh, Quế quảng,...

+ Cây thuốc: Cây gỗ vừa cao 15-20 m. Thân non màu xanh có nhiều khía dọc và lông mịn, tiết diện hình chữ nhật; thân già màu xám đen có nhiều nốt sần, tiết diện tròn. Toàn cây có mùi thơm. Lá đơn, mọc cách, các lá gần ngọn gần như mọc đối, không có lá kèm. Phiến lá hình bầu dục, đầu và gốc nhọn, dài 20-25 cm, rộng 8-9 cm, cứng giòn; mặt trên bóng láng, màu xanh đậm hơn mặt dưới; bìa phiến nguyên. Hệ gân lá có 3 gân chính gồm 1 gân giữa và 2 gân bên nổi rõ ở hai mặt; cặp gân bên hình cung, xuất phát cách gốc lá 0,5-1cm, cách bìa phiến 1,5-2cm, chạy dọc tới ngọn; gân phụ nhiều, hình mạng lưới, không rõ. Cuống lá mặt trên phẳng, mặt dưới lồi tròn, màu xanh pha xám, dài 2-2,5cm. Cụm hoa xim 2 ngả tụ thành chùm, mọc ở nách lá hay ngọn cành; cuống cụm hoa hình trụ dài 10-12 cm, màu xanh, có nhiều lông

mịn. Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 3. Lá bắc và lá bắc con dạng vẩy tam giác màu xanh, có nhiều lông mịn, rụng sớm; lá bắc dài 1-2mm, lá bắc con dài 0,4-0,6mm. Cuống hoa hình trụ dài 0,3-0,4cm, màu xanh, có nhiều lông mịn. Bao hoa 6 phiến hình bầu dục hơi nhọn ở đầu, màu vàng xanh, đều, rời, có nhiều lông mịn, dài 0,2-0,3cm, rộng 0,2-0,3cm, xếp xen kẽ nhau trên 2 vòng, tiền khai van. Bộ nhị 4 vòng xếp xen kẽ nhau, mỗi vòng 3 nhị dài 1,2-2mm rộng 0,4-0,5 mm, vòng trong cùng nhị lép; 3 vòng nhị ngoài chỉ nhị hình bản gốc có nhiều lông mịn, 4 ô phấn hình bầu dục dài xếp chồng lên nhau, mở bằng nắp bật lên, 2 vòng nhị ngoài hướng trong; riêng vòng nhị thứ 3 đáy chỉ nhị có 2 tuyến nhỏ hình khối màu vàng, bao phấn hướng ngoài; vòng nhị lép chỉ nhị hình bản dài 0,4-0,5mm, rộng 0,3-0,4mm, phía trên là khối màu vàng hình mũi tên dài 0,4-0,5mm. Hạt phấn hình cầu đường kính 25-35µm, nhẵn. Lá noãn 1, bầu giữa 1 ô, 1 noãn đính nóc; bầu màu xanh, hình bầu dục dài 0,9-1mm, nằm tự do trong đế hoa lõm hình chén; vòi nhụy hình trụ dài 1,5-2mm, đính ở đỉnh bầu, đầu nhụy dạng điểm màu nâu. Quả hình cầu đường kính 2-3mm, màu xanh, nằm trên 1 đấu nguyên.

+ Dược liệu: Vị thuốc Quế nhục là vỏ thân hoặc vỏ cành đã chế biến khô của cây (Cinnamomum cassia Presl) hoặc một số loài Quế khác (Cinnamomum sp). Đó là những mảnh vỏ dày 1 mm trở lên, dài 50cm, thường cuộn tròn thành ống. Mặt ngoài màu nâu đến nâu xám, có các lỗ vỏ và vết cuống lá. Mặt trong màu nâu hơi đỏ đến nâu sam, nhẵn. Quế rất dễ bẻ gãy, vết bẻ có màu nâu đỏ, có ít sợi tơ. Dược liệu Quế nhục có mùi thơm đặc trưng, vị cay, ngọt.

+ Phân bố: Cây sinh trưởng trong rừng nhiệt đới, ẩm thường xanh, ở độ cao dưới 800m.

+ Ở nước ta quế có nhiều ở Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Bà Rịa-Vũng Tàu. Trong đó có 4 vùng trồng quế tập trung là: Yên Bái, Quảng Ninh, Thanh Hoá - Nghệ An và Quảng Nam - Quảng Ngãi.Ngoài ra, quế còn phân bố ở Tây Ấn Ðộ, Xri Lanca và được trồng ở nhiều xứ nhiệt đới khác.

+ Xuất Xứ: Việt Nam.

+ Bộ phận dùng: Cành con của cây Quế. 

2. Thu hái - sơ chế:

+ Thu hái vào mùa xuân, phơi khô trong bóng râm hoặc ngoài nắng, cắt thành lát mỏng hoặc miếng.

3. Bào chế - bảo quản:

Bào chế: 

+ Quế chi có 4 dạng bào chế chính là quế chi thường, quế chi mộc, quế chi tiêm, quế chi sao.

– Quế chi thường được làm bằng các lấy nước ngâm qua, vớt ra, cho vào vật chứa đậy kín để quế ngấm ướt, cắt lát, hong khô và sàng qua để loại bỏ vảy vụn. 

– Quế chi mộc được làm bằng cách lấy quế chi bỏ vỏ, ngâm qua nước cho ướt, cắt lát và hong khô.

– Quế chi tiêm thì làm bằng cành quế chi nhỏ, ngâm qua nước, cho vào vật chứa đậy kín để quế ngấm ướt, cắt lát, hong khô.

– Quế chi sao thì làm bằng cách lấy quế chi phiến bỏ vào trong nồi, dùng lửa nhỏ sao đến khi quế chuyển màu hơi vàng và có những vết cháy xém nhẹ.

Bảo quản:

+  Dùng giấy bóng kính gói kỹ, đựng vào thùng kín. Để nơi khô ráo, kín, mát, tránh nơi ẩm.

4. Thành phần:

+ Có tinh dầu, trong tinh dầu chủ yếu có Andehit xinamic, camphen.

5. Tính vị - quy kinh:

Tính vị: 

+ Vị cay, ngọt ,tính ấm.

Quy kinh: 

+ Vào hai kinh Can và Thận.

6. Tác dụng - chủ trị:

Tác dụng dược lý:

+ Trong ống nghiệm, nước sắc quế chi có tác dụng ức chế mạnh vi rút cúm và nấm gây bệnh.

Tác dụng:

+ Gải cảm tán hàn, thông kinh chỉ thống, hành huyết lợi tiểu.

    Chủ trị:

    + Trị chân tay lạnh, tả lỵ, đau bụng, bế kinh, tiêu hoá, kiện Vị.

    7. Kiêng kỵ:

    + Kiêng kî đối với chứng sốt cao, âm hư dương thịnh, phụ nữ có thai, kinh nguyệt ra nhiều.

    8. Một số cách dùng thông dụng:

    + Ôn dương tán hoàn, hoạt huyết thông mạch: Gà giò 1 con (khoảng 0,5kg), quế chi 10g, đỗ trọng 15g, thỏ ty tử 10g, kê huyết đằng 30g, củ hành 100g, gừng lát 20g, hành hoa 10g, tỏi băm 10g, tương cà chua 20g, rượu vang đỏ 1 muỗng canh, dầu ăn 1 muỗng canh, bột tiêu một ít. Sau đó, đem gà giò rửa sạch, chặt miếng vuông; các vị thuốc khác rửa sạch, bọc trong túi vải; hành củ lột bỏ, thái lát. Cho chút dầu ăn vào xào xơ thịt gà rồi lấy ra, cho tiếp hành vào xào sơ thêm tương cà chua thì đổ thịt gà vào xào. Thêm nước vào nấu sôi rồi đổ qua nồi đất, thêm túi thuốc, gừng tươi, rượu vang, muối và dùng lửa nhỏ hầm trong khoảng 1 giờ. Đến khi gà chín nhừ thì bỏ túi thuốc, nêm thêm tỏi băm, bột tiêu.

    + Thông mạch, giảm đau: Cẳng gà 0,5 kg, quế chi 10g, hoàng kỳ 10g, sinh địa 10g, huyền sâm 10g, kê huyết đằng 10g, đương quy 10g, hành đoạn 10g, tử hoa địa đinh 10g, rượu 1 muỗng canh, bột nêm, muối, nước dùng vừa đủ. Đem cẳng gà rửa sạch, chặt bỏ phần móng, trụng qua nước sôi rồi vớt ra dội sạch; các vị thuốc khác rửa sạch, bọc trong túi vải. Cho cẳng gà vào nồi thêm hành đoạn, rượu, bột nêm và nước dùng vào nấu đến khi sôi thì chuyển lửa nhỏ hầm thêm nửa giờ. Thêm túi thuốc và gia vị hầm tiếp 20 phút cho cẳng gà nhừ để phát huy tốt nhất 

    + Giảm biến chứng đái tháo đường: Thịt gà rừng 250g, quế chi 10g, hồng hoa 15g, gừng lát 5g, hành đoạn 5g, muối lượng vừa đủ. Thịt gà đem rửa sạch, chặt thành miếng nhỏ, trụng qua nước sôi, vớt ra dội sạch; quế chi và hồng hoa rửa sạch. Sau đó cho thịt gà vào nồi, thêm gừng lát, hành đoạn và lượng nước vừa đủ vào nấu cho sôi. Chuyển lửa nhỏ hầm cho thịt gà gần chín, thêm quế chi, hồng hoa nấu đến khi thịt nhừ thì nêm muối cho vừa miệng.

    + Trị u xương sụn: Quế chi 10g, bổ cốt chỉ 15g, đổ trọng 15g, uy linh tiên 50g, tần giao 15g, đương qui 15g, mộc hương 8g, hạch đào nhân 25g, tế tân 5g, xuyên ô 5g; sắc uống.

    + Quế linh hoàn hỗ trợ điều trị u tử cung: Quế chi, phục linh, ngãi diệp, thanh bì, đào nhân, miết giáp, quyển bá, đơn bì, xích thược, xuyên đoạn, hoàng kỳ mỗi vị 10g; sinh mẫu lệ 30g và hoàng bá 6g. Đem tất cả nghiền thành bột, chế mật làm hoàn mỗi viên 10g. Ngày uống 3 lần, mỗi lần một viên, 45-90 ngày là một liệu trình. Khi kinh nguyệt đến thì nên ngừng thuốc. Sau mỗi liệu trình nên tiến hành kiểm tra để ngưng uống thuốc hoặc thay đổi cho phù hợp.

    + Trị bệnh mạch vành: Người bệnh mạch vành lấy quế chi, sao bạch truật, phục linh, dâm dương hoắc mỗi vị 10g; chế hà thủ ô, mẫu đơn bì, xuyên khung, câu kỉ tử mỗi vị 15g; đảng sâm 20g, đan sâm 25g, hoàng kỳ 30g, toàn đương qui 20g, chích cam thảo 8g. Tất cả đem sắc lấy nước thuốc, mỗi ngày 1 thang, chia 1-2 lần uống, khoảng 20 ngày là 1 liệu trình