Thạch hộc

Thạch Hộc

Trang chủ Thạch Hộc


1. Thạch Hộc: (Herba Dendrobii )

+ Tên khác: Kẹp thảo, Hoàng thảo dẹt, Kim thoa hoàng thảo, Hoàng thảo cẳng gà, Huỳnh thảo, tên Thái là Co vàng sào, người chơi lan gọi là Lan phi điệp hay Phi điệp kép.

+ Cây thuốc: Thạch hộc là cây biểu sinh trên cây gỗ hay vách đá, cao 30-60cm, đường kính 1,3cm, thường mọc thành khóm. Thân hơi dẹt, có rãnh dọc, khi khô có màu vàng rơm. Lá mọc so le hai bên thân, dài 6-12cm, rộng 1-3cm, không lông, dễ rụng. Hoa to xếp thành bó 1-4 cái ở sát nách lá, hoa dài 4-4,5cm, rộng 3-3,5cm, màu nền là hồng tía ở đầu chót của cánh hoa nhưng chuyển sang trắng vào phía trung tâm; ở hông của cánh môi có một chấm to màu hạt dẻ. Quả nang hơi hình thoi, khi khô tự mở theo các rãnh dọc. Hạt nhiều. Cây ra hoa tháng 3-4, có quả tháng 5-6.

+ Phân bố: Loài phân bố ở Nam Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Malaixia và Việt Nam, thường gặp mọc trên cây gỗ trong rừng ở độ cao 600-2400m. Ở nước ta, Cây Thạch hộc cũng gặp ở rừng Quảng Trị, Quảng Nam - Ðà Nẵng, Gia Lai, Lâm Ðồng.

+ Xuất xứ: Trung Quốc.

+ Bộ phận dùng: Thân cành, thu hái về, cắt bỏ rễ và lá, rửa sạch, ngâm nước ủ cho mềm, bóc bỏ lớp màng mỏng bên ngoài rồi phơi và sấy khô. Khi dùng, đồ chín, tẩm rượu thái nhỏ.

2. Thu hái - sơ chế:

+ Thân và cành, thu hái vào giữa mùa hè, cắt bỏ rễ và lá, rửa sạch, ngâm nước ủ cho mềm, bóc bỏ lớp màng mỏng bên ngoài rồi phơi và sấy khô. Khi dùng, đồ chín, tẩm rượu thái nhỏ.

3. Bào chế - bảo quản :

Bào chế:

+ Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Rửa sạch, bỏ rễ, bỏ khúc đen, cắt ngắn, phơi khô dùng.

+ Theo Trung y:

Lấy thạch hộc khô, ngâm nước ủ mềm thấu, bỏ hết rễ con và cành đen, cắt từng đoạn ngắn, lột bỏ màng mỏng, phơi hoặc sấy khô dùng.

Bảo quản: Dễ mốc mọt nên cần để chỗ khô ráo, thoáng gió, tránh ẩm.

4. Thành phần: Cây chứa chất nhầy, alcaloid dendrobin, nobilonin và G-hydroxydendrobin.

5. Tính vị - quy kinh:

Tính vị: Vị ngọt nhạt, hơi mặn, không độc, tính lạnh.

Quy kinh: Phế và Vị.

6. Tác dụng - chủ trị:

Tác dụng dược lý:

+ Có tác dụng hạ nhiệt, giảm đau nhẹ (trích yếu văn kiện nghiên cứu Trung dược, nhà xuất bản Khoa học 1965, trang 129).

+ Trên súc vật thực nghiệm, nước sắc cho uống làm tăng tiết dịch vị, trợ tiêu hóa, làm tăng nhu động ruột và thông tiện, nhưng liều cao thì tác dụng ngược lại làm tê liệt cơ ruột. Nồng độ thuốc thấp có tác dụng hưng phấn tá tràng cô lập của thỏ, nồng độ cao thì có tác dụng ức chế.

+ Trên súc vật thực nghiệm, Thạch hộc có tác dụng làm tăng đường huyết ở mức độ trung bình, lượng cao Thạch hộc có thể ức chế hô hấp, tim, hạ huyết áp.

Tác dụng:

+ Bổ dưỡng thanh nhiệt, chỉ khát, sinh tân dịch chữa lao lực, gầy yếu, ho, sốt nóng, miệng khô khát, mồ hôi trộm, thiểu năng sinh dục ở nam giới, chân tay và lưng đau nhức, nóng trong, đau dạ dày, viêm ruột.

    Chủ trị:

    + Khô miệng, khô cổ, hay khát nước do nội nhiệt cao, hạ sốt.

    - Trị các chứng ho khan, ho không đàm, ngứa trong họng

    - Tư dưỡng thận âm can âm, bổ mắt, trị các chứng mờ mắt, chóng mặt, lưng đau gối mỏi.

    7. Kiêng kỵ: Ho do đàm thấp (ho có nhiều đàm) không dùng.

    8. Một số cách dùng thông dụng:

    + Chữa suy nhược thần kinh, chóng mặt, nhức đầu, hoa mắt, ù tai, khó ngủ: Thạch hộc, kỷ tử, sa sâm, mạch môn, hạ khô thảo, mẫu lệ mỗi vị 12g; câu đằng 16g ; địa cốt bì, trạch tả, táo nhân, cúc hoa, mỗi vị 8g. Tất cả tán nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.

    + Chữa lao lực, ho, sốt nóng: Thạch hộc, khiếm thực mỗi vị 40g; thục địa, hoài sơn, mỗi vị 30g; tang thầm, tỳ giải mỗi vị 20g. Thục địa chưng cách thủy cho mềm, giã nhuyễn. Các dược liệu khác thái nhỏ, sấy khô, sao vàng, tán bột mịn rồi trộn với thục địa và mật ong, lượng vừa đủ để làm viên, mỗi viên 12g, ngày uống 2 lần với nước sôi để nguội. Người lớn mỗi lần 1 viên (uống với nước sôi để nguội); trẻ em 3 - 6 tuổi mỗi lần 1/4 viên; 7 - 10 tuổi mỗi lần 1/2 viên; 11 - 15 tuổi mỗi lần 3/4 viên.

    + Chữa di, mộng tinh: Thạch hộc, kim anh, sa sâm, mạch môn, khiếm thực, liên nhục mỗi vị 12g; quy bản 8g. Sắc uống trong ngày.

    + Chữa viêm bàng quang mạn tính: Thạch hộc, sa sâm, thục địa, ngưu tất, vỏ núc nác mỗi vị 12g; kim ngân hoa 20g; mã đề, tỳ giải mỗi vị 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

    + Chữa nha chu viêm, làm chắc chân răng: Thạch hộc, sinh địa, huyền sâm, sâm, quy bản, ngọc trúc, kỷ tử, thăng ma, mỗi vị 12g; kim ngân hoa 16g, bạch thược 8g, sắc lấy 200ml nước đặc, uống một nửa và ngậm một nửa dung dịch.

    + Chữa nóng trong, háo khát, thổ huyết: Thạch hộc, sinh địa, thục địa, sa sâm, đan sâm, thiên môn, ngưu tất, mỗi vị 16g; ngũ vị tử 3g. Sắc uống. Hoặc thạch hộc 4g, chè xanh 2g, hãm với nước sôi, uống hoặc súc, ngậm trong ngày.

    + Thanh nhiệt, giảm háo khát: Thạch hộc còn phối hợp với thiên môn, tì bà diệp, trần bì, sắc uống chữa ho; với đẳng sâm, câu kỷ, ngưu tất, đỗ trọng, sa sâm để chữa đau nhức xương; với ngọc trúc, mía.