Trân châu mẫu

Trân Châu

Trang chủ Trân Châu


1.Trân Châu: (Margarita. Perla)

+ Tên khác:  Ngọc trai, Trai ngọc, Hạt ngọc trai, Chân chu, Chân châu, Bạng châu, Châu tử, Liêm châu...

+ Con trai: Trai là một động vật thân mềm sống ở dưới nước, ngoài thân có bọc 2 vỏ cứng. Vỏ có thể mở ra, khép lại tùy theo con trai, thường khi nguy hiểm thì đóng lại và kiếm ăn thì mở ra. Nếu một vi sinh vậthay hạt sỏi hạt cát lọt vào thân con trai, dị vật đó sẽ kích thích lớp niêm mạc ngoài và bài tiết ra một chất bọc lấy dị vật và trở thành ngọc trai hay chân châu.

+ Dược liệu: Trân châu là hạt ngọc trong nhiều loài trai nên tên khoa học khác nhau như Pteria Martensii (Dunker), Hyriopsis cumingii (Lea), Cristaria plicata (Leach), Anodonta wodiana (Lea).Trân châu nhỏ có thể bằng hạt cải, to có thể to bằng hạt đậu, hạt ngô. Chất cứng, rắn, óng ánh, nhiều màu sắc trông rất đẹp, vừa dùng làm thuốc vừa dùng làm đồ trang sức rất quý.

Phân biệt:

- Ngoài ra, còn một loại trân châu mẫu Concha Pteriae. Trân châu mẫu là những hạt sần sùi nổi lên trong cứng của con trai, do vỏ con trai bị kích thích tạo nên, nhưng vẫn dính vào vỏ trai. Trân châu mẫu cũng dùng như trân châunhưng không quí bằng.

- Có loại trai cho ngọc sống ở nước mặn cho trân châu quý hơn. Có loại trai cho ngọc sống ở nước ngọt cho thứ trân châu gọi là bạng bối kém hơn.

+ Phân bố:   

- Thế giới: Trung Quốc ( Quảng Đông, đảo Hải Nam, Quảng Tây, Triết Giang, Thượng Hải )
- Việt Nam: Quảng Ninh, Phú Quốc.

+ Xuất xứ: Trung Quốc, Việt Nam...

+ Bộ phận dùng: Hạt sùi nổi trên vỏ cứng của con trai.

2. Đánh bắt - sơ chế:

+ Việt Nam ta có loại trân châu ở vùng bể thuộc tỉnh Quảng Ninh. Ta bắt đầu nghiên cứu nuôi trai lấy trân châu.

3. Bào chế - bảo quản:

Bào chế :

+ Bột Châu: Trân châu rửa sạch, dùng vải gói kỹ, thêm đậu hủ và nước tất cả nấu độ 2 giờ đồng hồ. Lấy ra, rửa sạch, giã vụn, thêm chút nước, nghiền thành bột cực mịn, khô ráo là được (Trung thảo dược đại tòan).

+ Thủy phi hoặc nghiền thành bột cực mịn dùng (Trung dược học).

Bảo quản:

+ Để nơi khô ráo.

4. Thành phần:

+ Trong trân châu có caxicacbonat, chất hữu cơ. Calcium carbonate (chừng 90%), magnesium carbonate, calcium phosphate ferric oxide, silica và nhiều nguyên tố Natri, kẽm, chì, đồng, manganèse. Ngọc trai có nhiều calcium carbonate và ít magnesium carbonate hơn loài sống ở biển.


 

5. Tính vị - quy kinh:

Tính vị: 

+ Vị ngọt, mặn, tính hàn.

Quy kinh: 

+ Vào kinh tâm, can.

6. Tác dụng - chủ trị:

Tác dụng dược lý:

+ Tác dụng đối với cơ trơn: Thuốc có tác dụng ức chế ruột thỏ (tiêu bản).

+ Gây vết thương thực nghiệm ở lưng tai thỏ, chế phẩm của thuốc có tác dụng làm lành hoàn toàn trong 12 ngày, thuốc giúp da tổn thương tái sinh nhanh hơn.

Tác dụng: 

 Dưỡng tâm, an thần, thanh can, sinh cơ.

    Chủ trị:

    + Chủ trị hay hồi hộp, lo sợ, hay cáu gắt.

    + Thanh lọc gan, chữa mắt mờ, cườm mắt.

    + Chữa các chứng lở miệng, lưỡi do nhiệt, làm hàn miệng vết thương.

    7. Kiêng kỵ:

    + Bệnh không do hỏa nhiệt chớ dùng (Bản thảo kinh tập chú).

    + Nhọt độc nếu độc bên trong chưa sạch, bèn dùng Trân châu đề sinh cơ, chuyển nguy thu miệng (Bản thảo tân biên).

    8. Một số cách dùng thông dụng:

    + Trị trẻ em kinh phong, sốt co giật, người lơn hồi hộp mất ngủ: Bột Trân châu 10g, Ngưu hoàng 10g, tán bột mịn trộn đều, mỗi lần uống 0,5g, ngày 2 - 3 lần với nước ấm. Trị trẻ em sốt cao co giật, viêm họng, viêm amidale, viêm mồm, khóc đêm. Kim bạc trấn tâm hoàn (Trân châu, Ngưu hoàng, Hổ phách, Đởm tinh, Thiên trúc hoàng). Trị suy nhược thần kinh, mất ngủ, hồi hộp, cấp kinh phong, sốt cao co giật. Trân châu phối hợp với Phục thần, Toan táo nhân, Ngũ vị tử tán bột mịn trọn với mật ong làm hoàn uống trị mất ngủ có kết quả.

    + Trị bệnh đau mắt (mắt đỏ đau, mắt có mộng thịt):

    - Đau mắt đỏ: Trân châu phối hợp với Thanh tương tử, Hoàng cầm, Cúc hoa, Thạch quyết minh để sơ tán phong nhiệt.

    - Mắt có mộng, màn che: Thuốc phối hợp với Lô cam thạch, Băng phiến chế thành thuốc nhỏ mắt.

    + Trị viêm lở mồm tái phát nhiều lần: Trân châu phối hợp với bột Thanh đại, Mai phiến, Ngưu hoàng, Hoạt thạch (Trân đại tán). Tác giả Trương Vinh dùng trị 319 ca loét mồm, bôi hoặc phun sương vùng bệnh ngày 3-4 lần. Đối với bệnh nặng gia uống 0,5g, ngày 2 - 3 lần. Kết quả: tốt 196 ca, chiếm 61,44%; có kết quả 100 ca, chiếm 31,35%; không kết quả 23 ca, chiếm 7,21% (Tạp kỷ yếu nghiên cứu các chế phẩm Trung dược 1985,1:21).

    + Trị can hư, phong nhiệt bốc lên: Bối xỉ 5 cái, Can khương 0,8g, Đan sâm 1,2g, Trân châu 1,2g. Tán bột, chia 2 lần uống trong ngày. (Trân Châu Tán – Chứng Trị Chuẩn Thằng).

    + Trị đậu đinh: Trân châu 0,8g, Ngưu hoàng 4,8g, Nhi trà 7,2g, Thần sa 3,2g, Trân châu 0,8g. Tán bột mịn, trộn dầu Yên chỉ. Dùng kim khêu đinh nốt đậu đinh rồi rắc thuốc vào chổ đã khêu (Tứ Thánh Đơn – Ngoại Khoa Khải Huyền).

    + Trị mắt bị loét, giác mạc loét: Bạng xác phấn (vỏ con trai), Ô tặc cốt, Thạch cao, Trân châu. Lượng bằng nhau. Tác bột, chấm vào khóe mắt. (Trân Châu Thoái Ế Tán – Chứng Trị Chuẩn Thằng).

    + Chữa phong dương nội động, đêm ngủ không yên: Thân châu 12g, Đương quy 40g, Thục địa 40g, Nhân sâm 40g, Táo nhân 40g, Bá tử nhân 40g, Tê giác 10g, Trầm hương 20g, Long cốt 20g. Nghiền nhỏ trộn mật làm hoàn bằng hạt ngô lấy Thần sa làm áo, mỗi lần dùng 40-50 viên uống với nước Kim ngân, Bạc hà làm thang uống. Công dụng: Dưỡng âm, minh thần, trấn kinh, định quý (tim đập hồi hộp). (Trân Châu Mẫu Hoàn)

    + Chữa can Thận âm hư, hỏa vượng: Đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, mất ngủ: Dùng Trân châu, Bạch thược, Sinh địa hoàng, Thạch quyết minh, Long cốt mỗi vị 12g. Sắc uống.

    + Chữa can huyết hư biểu hiện như mờ mắt, mắt yếu: Trân châu 20g, Thương truật12g, gan gà 1 cái tiềm ăn.

    + Trị trẻ em kinh phong, sốt co giật, người lớn hồi hộp mất ngủ: Trân châu 10g, Ngưu hoàng 10g, tán bột mịn trộn đều, mỗi lần uống 0,5g, ngày 2 - 3 lần với nước ấm.

    + Trị trẻ em sốt cao co giật, viêm họng, viêm amidale, viêm miệng, khóc đêm: Bài Trân châu phối hợp với Phục thần, Toan táo nhân, Ngũ vị tử tán bột mịn trộn với mật ong làm hoàn uống.