Uy linh tiên

Uy Linh Tiên

Trang chủ Uy Linh Tiên


1. Uy Linh Tiên: (Radix et Rhizoma Clematidis)

+ Tên khác: Mộc thông, Dây ruột gà.

+ Cây thuốc: Uy linh tiên là một dây leo, lá mọc đối, cuống dài thường vặn xoắn, lá chét 5, hình bầu dục, gân chính 3 mép nguyên. Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành xim, hoa màu trắng. Qủa bế hình trứng dẹt, tận cùng bằng một vòi nhụy dài gấp 6-10 lần bầu, có lông màu vàng nhạt. Mùa hoa tháng 6-8, mùa quả tháng 9-11.

+ Dược liệu: Vị thuốc Uy linh tiên có hình trụ tròn, dài 10-20cm đường kính 0,15-0,20cm, hơi cong queo, mặt ngoài màu nâu đen, có những vân nhỏ, chất chắc giòn, thịt trắng, vị hơi đắng, mùi thơm nhẹ.

+ Phân bố: Trung Quốc, Đảo Hải Nam, Đài Loan, Lào. Ở Việt Nam (Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu ) có hai cây thường dùng thay Uy linh tiên Trung Quốc là cây Kiến cò hay Bạch hạc (RhiraCancommunic Nees, họ ACan thaceae). Ở liên khu IV có loại Uy linh tiên dây leo Thunbergia (cùng họ), lá hình quả tim, hoa trắng, rễ từng chùm như dây Uy linh tiên Trung Quốc.

+ Xuất xứ: Quảng Tây, Trung Quốc.

+ Bộ phận dùng: Rễ. Mỗi năm mọc nhiều rễ, lâu năm mọc thành một khóm rậm rạp, có hàng trăm sợi, dài đến 60cm. Dùng thứ rễ nhiều, rậm dài, đen sẫm, nhục trắng, chất chắc (tục gọi ‘Chiết ước Uy linh tiên’) là tốt nhất, còn thứ khác nữa nhưng không dùng làm thuốc được.Ta dùng cả thân dây thay vị Mộc thông (Clematis armandii Franch) của Trung Quốc.

2. Thu hái - sơ chế:

+ Thu hoạch rễ quanh năm, rửa sạch, thái mỏng phơi khô. Thân dây thu hái quanh năm, thái mỏng, phơi khô, khi dùng sao vàng.

3. Bào chế - bảo quản:

Bào chế:

+ Theo Trung Y: Rửa sạch, bỏ tạp chất, ngâm nước cho mềm, vớt ra cắt từng khúc 2cm, phơi khô dùng; hoặc tẩm rượu, ủ thấu, sao nhỏ lửa cho khô, để nguội dùng.
+ Theo kinh nghiệm Việt Nam: Bỏ tạp chất, rửa sạch, ủ kín độ 12 giờ (không được ngâm nước) cắt ra từng khúc 3cm phơi khô. Tuỳ từng trường hợp tẩm rượu, giấm, mật, gừng rồi sao qua.

Bảo quản: Để nơi khô ráo.

4. Thành phần: Rễ chứa Anemonin, anemonol, sterol, saponin, phenol, oleanolic acid, đường.

5. Tính vị- quy kinh:

Tính vị:

+ Vị đắng ôn, không độc. (Khai bảo bản thảo).

+ Đắng cay ôn, độc ít. (Bản kinh phùng nguyên).

Quy kinh:

+ Vào kinh Bàng quang.

+ Nhập bàng quang, nhập trường vị. (Bản thảo cầu chân)

+ Nhập Phế Thận. (Bản thảo tái tân) .

6. Tác dụng - chủ trị:

Tác dụng dược lý:

+ Cho chó uống nước sắc rễ Uy linh tiên, tần số nhu động thực quản tăng, biên độ lớn hơn. Người sau khi hóc xương cá, vùng trên của thực quản và họng co thắt, uống.

+ Uy linh tiên vào được thư giãn (do tác dụng kháng histamin của thuốc), nhu động thay đổi, xương rơi (đó là căn cứ trị hóc xương mà y văn cổ đã nói).

+ Uy linh tiên có tác dụng kháng histamin đối với cơ trơn ruột thỏ cô lập. Nước sắc chiết cồn đều có tác dụng lợi mật.

+ Uy linh tiên (loại C. Manchurica Rupr.) có tác dụng bảo hộ chống thùy sau tuyến yên gây thiếu máu cơ tim, chống lại thiếu oxy.

+ Dịch cồn lỏng chiết xuất rễ có tác dụng dục sản đối với chuột nhắt có thai thời kỳ giữa.

+ Thành phần anemonin trong thuốc có tính kích thích gây mụn phỏng ngoài da, xung huyết niêm mạc, ức chế đối với một số khuẩn Gram dương và Gram âm, nấm.

+ Nước sắc của thuốc có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn lî Shigella.

Tác dụng: Khu phong, hành khí, thông kinh lạc.

Chủ trị: Chữa các chứng đau nhức tê bại, viêm khớp dạng thấp, đau dây thần kinh.

7 .Kiêng kỵ: Huyết hư, gân co, không phong thấp, thực tả thì không nên dùng. Trong thời gian uống thuốc, không được dùng trà (Thực Dụng Trung Y Học).

8. Một số cách dùng thông dụng:

+ Trị đau khớp do phong thấp, lưng gối đau nhiều: Bột Uy linh tiên, mỗi lần uống 3 - 6g, ngày 2 lần, uống với rượu ấm. Uy linh tiên, Quế chi, Phụ tử, Khương hoạt đều mỗi thứ 6g sắc nước uống trị viêm khớp mạn tính , đau lưng gối. Thần ứng hoàn ( chứng trị chuẩn thằng): có Uy linh tiên, Quế tăm, Đương qui trị đau lưng do phong thấp hoặc ngã đau.

+ Trị đau bao tử cơ năng: Uy linh tiên 10g, sắc bỏ xác, cho vào 1 quả trứng gà trộn uống.

+ Trị hóc xương cá:

- Uy linh tiên 10g, Sa nhân 3g, sắc nước ngậm uống.

- Uy linh tiên 30g sắc đặc uống hoặc uống với giấm. Khoa Ngũ quan Bệnh viện 157 thuộc Quân đội giải phóng nhân dân Trung quốc dùng trị cho 104 ca, có kết quả 87,6% ( theo báo Tân y học 1973,3:144)

+ Trị nấc cụt: Uy linh tiên và mật ong mỗi thứ 30g, sắc uống. Lý trụ Hoa dùng trị 60 ca có kết quả trên 90% ( Báo nghiên cứu Trung thành dược 1982,2:46).

+ Trị sỏi mật: Mỗi ngày dùng Uy linh tiên 30 - 60g sắc uống. Lục Hoan Thanh đã dùng trị 120 ca sỏi mật, kết quả 87%. Tác giả nghiên cứu chích thuốc cho thỏ phát hiện lượng mật tiết tăng nhiều, cơ vòng Oddi giãn rõ (Báo Trung y Hà nam 1987, 6:22).

+ Phản ứng độc tính: Tác giả giới thiệu dùng lá nhỏ Uy linh tiên đắp ngoài (3 ca đắp lá tươi phản ứng mạnh, 1 ca đắp lá khô phản ứng nhẹ) da nổi mụn phỏng lớn, sưng đỏ đau, bóc da và để lại sẹo tím lâu hết (Lưu ngọc Thư, Học báo Trung y dược 1978,2:43).

+ Trị hắc lào, sang lở: Dùng tươi giã nát đắp ngoài trị sang lở và hắc lào.

+ Trị phụ nữ bụng dưới đau do khí bị trệ (do hàn): Đương quy 20g, Mộc hương 20g, Một dược 20g, Quế tâm 20g, Uy linh tiên 40g. Tán bột, mỗi lần dùng 4g với rượu nóng. (Uy Linh Tán – Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương).

+ Trị người lớn tuổi mà tân dịch khô, táo bón, khó tiêu: Chỉ thực 40g, Hoàng kỳ 40g, Uy linh tiên 20g. Tán bột. Trộn mật làm hoàn, to bằng hạt Ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 20 viên với nước sắc Sinh khương. (Uy Linh Tiên Hoàn – Kê Phong Phổ Tế Phương).

+ Trị trĩ (do khí), đại tiện khó (táo bón): Chỉ xác 40g, Nhũ hương 40g, Uy linh tiên 40g. Tán bột, làm hoàn, ngày uống 12 – 16g với nước cơm. (Uy Linh Tiên Hoàn II – Chứng Trị Chuẩn Thằng).

+ Trị đau khớp, viêm đa khớp, chân tay co rút: Uy linh tiên, Tần giao, Phòng kỷ, Bạch chỉ, Hải phong đằng, Nhũ hương, Đào nhân, Hoàng bá các vị đều 12g, Độc hoạt, Xuyên khung, đều. Sắc uống. (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách). 

+ Trị viêm cột sống phì đại 65 ca và chấn thương cơ vùng lưng 32 ca: Dùng dịch Uy linh tiên chích bắp đều có kết quả ( Qui Thành và cộng sự, báo Thông tin Trung thảo dược 1979,7:13).