Xa tiền tử

Xa Tiền Tử

Trang chủ Xa Tiền Tử


1. Xa Tiền Tử: (Semen Plantaginis )

+ Tên khác: Hạt Mã đề, Mã tiền á, Xa tiền , Suma (Tày), Nhả én dứt (Thái).

+ Cây thuốc: Xa tiền tử là hạt cây mã đề, một cây cỏ sống lâu năm, thân ngắn, lá mọc thành cụm ở gốc, cuống dài, phiến lá hình thìa hay hình trứng, có gân dọc theo sống lá và đồng quy ở ngọn và gốc lá. Hoa mọc thành bông, có cán dài, xuất phát từ kẽ lá, hoa dài lưỡng tính, đài 4, xếp cheo, hơi dính ở gốc, tràng màu nâu tồn tại, gồm 4 thùy nằm sen kẽ ở  giữa các lá đài. Nhị 4 chỉ nhị mảnh, dài, 2 lá noãn chứa nhiều tiểu noãn. Quả hộp trong chứa nhiều hạt màu nâu đen bóng. Cây mọc hoang trên khắp cả nước.

+ Dược liệu: Vị thuốc Xa tiền tử là hạt chín già phơi khô của cây mã đề, xa tiền thảo là cả cây mã đề phơi hay sấy khô. Hạt rất nhỏ, hình bầu dục, hơi dẹt, dài khỏang 1mm. Mặt ngoài màu nâu hay tím đen. Nhìn gần thấy trên mặt hạt có chấm nhỏ màu trắng khá rõ. Nhìn qua kính lúp thấy những vân lăn tăn trên bề mặt hạt. Rốn hạt lõm.

+ Phân bố: Nhiều nơi như Trung Quốc, Ấn Độ. Ở Việt Nam  mọc hoang khắp cả nước.

+ Xuất xứ: Giang Tây, Trung Quốc.

+ Bộ phận dùng: Hạt chín già của cây Mã đề- Plantago major L., ở Việt Nam hay gặp loài Plantago asiatica L., họ Mã đề (Plantaginaceae).

2. Thu hái - sơ chế:

+ Vào tháng 7-8 quả chín thì hái toàn cây đưa về phơi hay sấy khô, loại bỏ tạp chất. Muốn lấy hạt thì đập rũ lấy hạt, rây qua rây rồi phơi khô.

3. Bào chế - bảo quản:

Bào chế: Lấy hoàn toàn cả hột, rễ và lá thì sức nó mới trọn vẹn, cho lá vào sao khô rồi cho hột vào sao qua, bỏ lá, lấy hột dùng.

Bảo quản: Để trong hòm lót giấy hoặc trong lu, để nơi khô ráo, dâm mát, chống ẩm.

4. Thành phần:

+ Xa tiền tử có chất nhầy, thành phần của chất nhầy có polysaccharid là plantasan; các acid hữu cơ, dầu béo.

+ Plantasan, palmitic acid, arachidic acid, succinic acid, adenine, cholic acid, stearic acid, oleic acid, linolenic acid.

+ Theo sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam của GS Đỗ tất Lợi :

- Toàn cây chứa một glucozit gọi là aucubin hay rinantin còn gọi là aucubazit.

- Trong lá có chất nhày, chất đắng carotin, vitamin C, vitamin K và vitamin T, acid citric.

- Trong hạt chứa nhiều chất dầu, acid plantenolic, adenin và cholin.

5. Tính vị- quy kinh:

Tính vị: Vị ngọt, tính hàn.

Quy kinh: Vào kinh phế, thận, can, bàng quang.

6. Tác dụng - chủ trị:

Tác dụng dược lý:

+ Hạt mã đề có tác dụng tăng cường bài tiết nước tiểu, tăng bài tiết lượng acid uric, lượng muối NaCl. Chất glycosid chiết ra từ hạt có tác dụng ức chế trung khu hô hấp, xúc tiến sự phân tiết ở niêm mạc đường hô hấp (cho nên có thể dùng trấn ho trừ đờm).

+ Hạ huyết áp.

+ Tác dụng kháng khuẩn: ức chế trực khuẩn lỵ.

Tác dụng:

+ Thanh nhiệt, lợi thấp, trị viêm thận cấp tính, viêm đường niệu đạo, viêm bàng quang cấp, sỏi niệu đạo. Thanh thấp nhiệt tỳ vị, thanh thấp hóa đờm, thanh can sáng mắt, ích thận cố tinh.

Chủ trị:

+ Trị chứng thấp nhiệt, tiểu tiện khó khăn, đi tiểu đau buốt, đái dắt, nước tiểu đỏ đục, nóng và lượng rất ít, thậm chí đi tiểu ra máu, có thể dùng hạt mã tiền để tán bột, mỗi lần 8g.

+ Trị tiêu chảy và viêm đường ruột, trị bệnh lỵ, dùng hạt mã đề, hoa hòe lượng bằng nhau, sao thơm uống mỗi lần 8g nước ấm.

+ Trị phế nhiệt, ho có đờm. Phối hợp với mạch môn.

+ Trị mắt đỏ, sưng đau, hoa mắt. Phối hợp hạ khô thảo.

+ Dùng cho những người không sinh con được hoặc lâu ngày không đẻ được, còn dùng chữa ho ra máu, hạ huyết áp.

7 . Kiêng kỵ:

+ Phụ nữ có thai không dùng.

+ Âm thịnh dương suy không nên dùng.

8. Một số cách dùng thông dụng:

+ Lợi tiểu: Hạt mã đề 10g, cam thảo 2g, sắc lấy nước, chia 3 lần uống trong ngày.

+ Chữa tiểu ra máu: Lá mã đề, ích mẫu, mỗi vị 12g; giã nát, vắt lấy nước cốt uống.

+ Chữa viêm cầu thận cấp tính: Mã đề 16g, thạch cao 20g, ma hoàng, bạch truật, đại táo, mỗi vị 12g; mộc thông 8g, gừng, cam thảo, quế chi, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.

+ Chữa viêm cầu thận mạn tính: Mã đề 20g, ý dĩ 16g, thương truật, phục linh, trạch tả, mỗi vị 12g; quế chi, hậu phác, mỗi vị 6g; xuyên tiêu 4g. Sắc uống ngày một thang.

+ Chữa sỏi niệu: Hạt mã đề 12-40g, kim tiền thảo 40g, thạch vĩ 20-40g, hoạt thạch 20-40g, tam lăng, ý dĩ, ngưu tất, nga truật, mỗi vị 20g; chỉ xác, hậu phác, gai bồ kết, hạ khô thảo, bạch chỉ, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.

+ Chữa viêm bàng quang cấp tính: Mã đề 16g, hoàng bá, hoàng liên, phục linh, rễ cỏ tranh, mỗi vị 12g; trư linh, mộc thông, hoạt thạch, bán hạ chế, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.

+ Chữa lỵ: Mã đề, dây mơ lông, cỏ seo gà mỗi vị 20g. Sắc uống ngày một thang.

+ Chữa tiêu chảy: Mã đề tươi 1-2 nắm, rau má tươi 1 nắm, cỏ nhọ nồi tươi 1 nắm. Sắc đặc, uống ngày một thang.

+ Chữa tiêu chảy mạn tính: Hạt mã đề 8g, cát căn, rau má, đẳng sâm, cam thảo dây mỗi vị 12g, cúc hoa 8g. Sắc uống ngày một thang.

+ Chữa sốt xuất huyết: Mã đề tươi 50g, củ sắn dây 30g. Hai thứ trên rửa sạch đun trong 1 lít nước, sắc kỹ còn một nửa, chia làm 2 lần uống lúc đói trong ngày. Có thể cho thêm đường, uống liền trong 3 ngày.

+ Chữa viêm gan siêu vi trùng: Mã đề 20g, nhân trần 40g, chi tử 20g, lá mơ 20g. Tất cả thái nhỏ sấy khô, hãm như chè để uống, ngày uống 100-150 mg.

+ Chữa viêm phế quản: Mỗi ngày dùng 6 - 12g hạt mã đề hay dùng cả cây sắc uống nhiều lần trong ngày.

+  Chữa chứng tiểu ra máu, cơ thể nhiệt ở người già: Dùng hạt mã đề (một vốc) giã nát bọc vào khăn vải sạch đổ 2 bát nước, sắc còn một bát, bỏ bã, đổ vào nước ấy 3 vốc hột kê và nấu thành cháo ăn khi đói, ăn nhiều mắt sáng làm người mát.

+ Chữa trẻ bị sởi gây tiêu chảy: Dùng hạt mã đề, sao qua, sắc uống. Nếu bí tiểu tiện thì thêm mộc thông, cũng có thể dùng hạt mã đề với rau dừa nước lượng như nhau, sắc uống nếu như không có mộc thông.