Xích thược

Xích Thược

Trang chủ Xích Thược


1. Xích Thược: (Radix Paeoniae)

+ Tên khác: Thược dược, Thảo thược dược, Xuyên xích thược.

+ Cây thuốc: Xích thược là cây thảo sống lâu năm, cao 50-80cm, lá mọc so le, chụm hai hay chụm ba, kép, với 9-12 phần phân chia, các đoạn không đều, hình trái xoan ngọn giáo, dài 8-12cm, rộng 2-4 cm mép nguyên, phía cuống hơi hồng. Hoa rất to mọc đơn độc, có mùi hoa Hồng, trên mỗi thân mang hoa có 1-7 hoa, rộng 10-12cm. Đài có 6 phiến, cánh hoa xếp trên một dãy hoặc hai dãy, màu hồng thịt trước khi nở, rồi chuyển dần sang màu trắng tinh; bao phấn màu da cam. Quả gồm 3-5 lá noãn.

+ Dược liệu: Vị thuốc Xích thược hình trụ hơi cong, dài 5 – 40 cm, đường kính 0,5 – 3 cm. Mặt ngoài màu nâu, thô, có vân nhăn và rãnh dọc, có vết của rễ con và lỗ vỏ nhô lên theo chiều ngang, đôi khi vỏ ngoài dễ bị tróc. Chất cứng và giòn, dễ bẻ gẫy, mặt bẻ màu trắng phấn hoặc hồng, vỏ hẹp, gỗ có vân xuyên tâm rõ, đôi khi có khe nứt. Mùi hơi thơm, vị hơi đắng, chua và chát.

+ Phân bố: Cây trồng và mọc hoang nhiều nơi ở Việt Nam, nhiều nhất ở vùng Cao Bằng, Lặng Sơn, Hà Nội. Nguồn gốc của cây ở Trung Quốc, Nhật Bản.

+ Xuất xứ: Cát Lâm, Trung Quốc.

+ Bộ phận dùng: Rễ. Rễ to dài, ngoài sắc nâu xám, trong sắc hồng hoặctrắng, chắc, nhiều bột là tốt.

2. Thu hái - sơ chế:

+ Sau 4 năm trồng mới bắt đầu thu hoạch. Đào rễ vào các tháng 8-10, cắt bỏ thân rễ và rễ con, cạo, bỏ vỏ ngoài, đổ lên cho chín (thời gian đồ tùy theo rể to nhỏ mà quyết định), sau khi đồ sửa lại cho thẳng và sấy hay phơi khô. Tại Hàng Châu, người ta đào rễ vào tháng 6, cất bỏ rễ con, đổ lên rồi phơi nhưng sau khi phơi 1-2 ngày lại tẩm nước cho mềm, lăn cho tròn rồi tiếp tục phơi. Khi phơi không nên phơi nắng to quá để tránh nứt hay cong queo.

3. Bào chế - bảo quản:

Bào chế:

+ Theo Trung Y: Ủ mềm thái mỏng (dùng sống). Có thể tẩm rượu hoặc tẩm giấm sao.
+ Theo kinh nghiệm Việt Nam:
- Rửa sạch, ủ cho đến mềm thấu, thái lát, hoặc bào mỏng. Sấy hoặc phơi khô (dùng sống).
- Sau khi bào thái mỏng sấy khô, tẩm rượu 2 giờ rồi sao, hoặc tẩm giấm sao.

Bảo quản: Để nơi khô ráo, đậy kín, tránh ẩm sinh mốc.

4. Thành phần:

+ Tinh bột, tanin, nhựa, chất đường, sắc tố và acid benzoic. Tỷ lệ acid benzoic trong Xích thược là thấp hơn Bạch thược (0,92%), tinh dầu, Xích thược tố A, Paeoniflorin. 

5. Tính vị- quy kinh:

Tính vị: Vị chua, đắng, tính hơi hàn.

Quy kinh: Vào phần huyết của Can kinh.

6. Tác dụng - chủ trị:

Tác dụng dược lý:

+ Theo Y học cổ truyền: Xích thược có tác dụng lương huyết, hoạt huyết, giải độc tiêu ung chỉ thống.

+ Theo kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại, thuốc có tác dụng sau:

- Trên thực nghiệm súc vật thuốc có tác dụng chống co thắt ruột, dạ dày, tử cung (làm giảm đau do co thắt cơ trơn). Thuốc có tác dụng kháng khuẩn đối với trực khuẩn lỵ, thương hàn, phó thương hàn, coli, khuẩn mủ xanh, trực khuẩn ho gà, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn dung huyết, phế cầu khuẩn, virut cúm, herpes, virut đường ruột và một số nấm. Thuốc có tác dụng làm giãn động mạch vành, chống ngưng tập tiểu cầu, chống hình thành huyết khối, làm tăng lưu lượng máu cho động mạch vành, chống thiếu máu cơ tim trên thực nghiệm cũng chứng minh thuốc có tác dụng làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa.
- Paeoniflorin có tác dụng kháng viêm và hạ sốt.

- Dùng độc vị Xích thược làm tăng nhanh di căn của ung thư, trên thực nghiệm chứng minh Xích thược có tác dụng ức chế mạnh thể dịch và tế bào miễn dịch, nhưng lại nhận thấy cồn chiết xuất Xích thược D lại có tác dụng trực tiếp ức chế tế bào ung thư, có tác dụng gia tăng khả năng của thực bào, nâng cao ngưỡng CAMP của tế bào ung thư. Xích thược dùng phối hợp với một số vị thuốc chống ung thư cũng làm tăng thêm tác dụng chống ung thư của thuốc và không có tác dụng làm tăng di căn.

Tác dụng: Thanh nhiệt lương huyết, điều kinh, thanh can nhiệt, hoạt huyết khứ ứ, giảm đau, giải độc.

Chủ trị:

+ Dùng sống: tán tà, hành huyết. Tẩm rượu sao: thổ huyết, đổ máu cam. Tẩm giấm sao: trị kinh bế, đau bụng.

+ Các bệnh có sốt trong đó nhiệt tà ngoại sinh xâm nhập phần dinh và huyết biểu hiện phát ban, nôn máu, chảy máu cam, chất lưỡi đỏ thẫm: Xích thược phối hợp với Sinh địa hoàng và Mẫu đơn bì.

+ Huyết ứ biểu hiện rối loạn kinh nguyệt, mất kinh, viêm cấp có sưng nóng đỏ đau do ngoại thương: Xích thược phối hợp với Xuyên khung, Ðương qui, Ðào nhân và Hồng hoa.

+ Mụn nhọt : Xích thược phối hợp với Kim ngân hoa và Liên kiều.

7 . Kiêng kỵ: Huyết hư, không bị ứ trệ thì kiêng dùng. Không dùng chung với Lê lô.

8. Một số cách dùng thông dụng:

+ Trị lịch tiết phong, khớp xương đau nhức, tay chân phù: Xích thược 80g, Hải đông bì 80g, Đào nhân 20g, Đương quy 80g, Phòng kỷ 80g, Phụ tử 40g, Quế tâm 120g, Tỳ giải 40g, Xuyên khung 40g. Tán bột, mỗi lần dùng 20g, hoặc thêm gừng 6g sắc uống ấm, lúc đói. (Xích Thược Dược Tán – Thái Bình Thánh Huệ Phương). 

+ Trị đau thắt ngực do bệnh mạch vành: dùng Xích thược phối hợp Xuyên khung, Hồng hoa, Giáng hương dùng bài Mạch vành số 2 (Tổ phòng trị bệnh mạch vành Bắc kinh) gồm Giáng hương 20g, Đơn sâm 40g, Xích thược, Xuyên khung, Hồng hoa mỗi thứ 20g tán mịn hòa nước uống chia 3 lần trong ngày, liên tục dùng 4 tuần là một liệu trình. Hoặc dùng độc vị Xích thược 40g sắc uống ngày 3 lần.

+ Trị chảy máu cam: Xích thược tán nhỏ, mỗi lần uống 6 - 8g.

+ Trị băng huyết, bạch đới: Xích thược, Hương phụ 2 vị bằng nhau tán nhỏ, mỗi lần uống 6 - 8g, ngày 2 lần trong 4 - 5 ngày. Chữa chứng tích khối, đau một chổ không di động nằm thì bụng sa xuống: Ngủ Linh chi 8g, Hồng hoa 12g, Xích thược 8g, Đương quy 12g, Xuyên khung 12g, Đào nhân 12g, Đan bì 12g, Ô dước 8g, Huyền hồ  8g, Cam thảo 12g, Hương phụ 10g, Chỉ xác 6g. Sắc uống. (Cách Hạ Trục Ứ Thang).

+ Trị thương hàn, nôn ra máu, cầu ra máu: Xích thược 40g, A giao 80g, Bạch truật 40g, Chích thảo 40g, Đương quy 40g, Hoàng cầm 40g, Phụ tử 40g, Sinh địa 160g. Tán bột, ngày uống 20g với rượu ấm, lúc đói. Tác dụng: Ôn dương, kiện Tỳ, lương huyết, chỉ huyết. (Xích Thược Dược Tán II – Thánh Tế Tổng Lực).