Dấu Hiệu Cơn Đột Quỵ

Dấu Hiệu Cơn Đột Quỵ

Trang chủ Tai biến mạch máu não Dấu Hiệu Cơn Đột Quỵ

    Mỗi năm trên toàn cầu có 16 triệu ca đột quỵ và khoảng sáu triệu ca tử vong. Hơn 80% trường hợp đột quỵ xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam, ước tính hằng năm có khoảng 200 nghìn người bị đột quỵ. Tỷ lệ bệnh nhân bị di chứng chiếm tới 90% các ca về tai biến mạch máu não tại Việt Nam.

   Cũng theo thống kê này, tỷ lệ chảy máu não ở Việt Nam chiếm từ 40 đến 50%, nhồi máu não chiếm 20%, tỷ lệ tử vong cao. Nguyên nhân chính là do điều kiện kinh tế ở Việt Nam hạn hẹp, cơ sở hạ tầng của đa số các bệnh viện còn thiếu thốn. Việc chẩn đoán, xử lý và quản lý bệnh nhân đột quỵ còn gặp nhiều khó khăn và kiến thức về tai biến mạch máu não của người dân cũng còn hạn chế.

      Đột quỵ là một trong các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật (xếp hàng thứ ba về bệnh gây tử vong, sau ung thư và tim mạch). Căn bệnh nguy hiểm này đã và đang trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội nhưng hoàn toàn có thể giảm tỷ lệ tử vong và tỷ lệ tàn tật nếu người dân được trạng bị kiến thức phòng bệnh, hiểu biết các triệu chứng nào có thể là biểu hiện của bệnh đột quỵ?

      Trước hết cần hiểu rõ Đột quỵ là gì? Đột quỵ còn được gọi là tai biến mạch máu não” là tình trạng bệnh lý xãy ra khi có sự ngừng cung cấp máu đến một phần hoặc toàn phần não”. Người ta chia căn bệnh này thành 2 thể là nhồi máu não (mạch máu não bị tắc) và thể xuất huyết não (mạch máu não bị vỡ làm máu bị tràn chảy ra ngoài). Não là cơ quan điều khiển toàn bộ hoạt động cơ thể, mỗi vùng não riêng biệt sẽ phụ trách những cơ quan khác nhau. Do đó đột quỵ sẽ có nhiều biểu hiện khác nhau tùy vào vị trí não bị ngừng cung cấp máu.
Sổ tay hướng dẫn phát hiện và xử lý cấp cứu đột quỵ của Hoa Kỳ năm 2011 đưa ra thuật ngữ FAST để nhận ra các dấu hiệu sớm của bệnh này.

- Chữ F đầu tiên là viết tắt của Face, nghĩa là mặt. Dấu hiệu đầu tiên của đột quỵ có thể là mất điều khiển một bên mặt, dẫn đến xệ một bên mặt, sụp mí mắt, méo mồm…

- Chữ A là Arm, nghĩa là cánh tay. Người bỗng nhiên thấy yếu một bên tay, không cầm nắm được, thường làm rơi đồ vật hoặc không cử động được như ý muốn, nếu không phải vấn đề cơ xương khớp thì sẽ là vấn đề của cái đầu.

- Chữ S- Speech nghĩa là phát ngôn. Người bị đột quỵ có thể gặp khó khăn khi nói như nói không rõ tiếng, nói lắp, nói ngọng…do trung khu điều khiển chức năng nói bị tổn thương do thiếu máu. Dấu hiệu này còn thể hiện theo chiều ngược lại, do tổn thương ở trung khu xử lý ngôn ngữ.

- Chữ T cuối cùng là viết tắt của câu Time to call 115. Như vậy, ngay ở các nước phát triển cũng coi căn bệnh này là rất nghiêm trọng, người không có chuyên môn không nên tùy tiện xử lý mà phải gọi cấp cứu ngay.
      Một số tài liệu ở nước ta cũng nêu lên cách xác nhận một người nghi bị đột quỵ theo công thức CNG: Cười, Nói, Giơ tay. Yêu cầu người nghi bị đột quỵ làm 3 việc kể trên. Nếu không thực hiện được hoặc thấy có sự bất thường, gặp khó khăn thì khả năng đang bị cơn đột quỵ là rất cao.


         Dễ nhận thấy các dấu hiệu trên có tính bất đối xứng, nghĩa là chỉ biểu hiện ở 1 bên. Theo giải phẫu, bán cầu đại não bên này sẽ điều khiển nữa người bên kia và ngược lại. Khi bị đột quỵ, chỉ một phần não bị ngừng cung cấp máu nên chỉ thể hiện ở bộ phân cơ thể do phần não đó điều khiển.

         Cần chú ý rằng các công thức nhận biết đột quỵ FAST hay phải chẩn đoán khẳng định đột quỵ. Sử dụng những công thức này giúp chúng ta nhận thức được mối nguy cơ và gọi cấp cứu kịp thời, giúp các y bác sỹ có được khoảng “thời gian vàng” để cứu bệnh nhân.