Bạch mao căn

Bạch Mao Căn

Trang chủ Bạch Mao Căn


1. Bạch Mao Căn: (Rhizoma  Imperatae cylindricae)

+ Tên khác: Bạch mao căn là rễ cỏ tranh, còn gọi là Mao căn, Mao thảo căn, Cỏ săng, Bạch mao, Sinh mao căn.

+ Cây thuốc: Còn gọi là cây cỏ tranh là một loại cỏ sống dai, thân rễ khỏe chắc, cao 30-90cm, lá hẹp dài 15-30cm, rộng 3-6mm, gân lá ở giữa phát triển, ráp ở mặt trên, nhẵn ở mặt dưới, mép lá sắc. Cụm hoa hình chùy nhưng hinh bắp dài 5-20cm màu trắng bạc, bông nhỏ phủ đầy lông nhỏ mềm, rất dài.


 

+ Dược liệu: Thân rễ hình trụ, dài 30-40cm, đường kính 0,2 – 0,4cm. Mặt ngoài trắng ngà hay vàng nhạt, có nhiều nếp nhăn dọc và nhiều đốt, mỗi đốt dài 1 – 3,5cm, trên các đốt còn sót lại vết tích của lá vẩy và của rễ con. Dai, dễ bẻ gẫy ở đốt, mặt bẻ có sợi. Mặt cắt ngang gần hình tròn, mặt ngoài lồi lõm không đều, ở giữa thường rách nứt. Dưới ánh sáng đèn tử ngoại 365nm, phần tủy có phát quang màu xanh lơ, phần vỏ phát quang màu vàng nhạt. Cỏ tranh không mùi, không vị, sau hơi ngọt.

+ Phân bố: Cây mọc khỏe khắp vùng đồng bằng, trung du và miền núi nước ta. Cỏ tranh thường mọc thành bãi lớn trên nương rẫy hoang hay vùng đồi núi trống.

+ Bộ phận dùng: Thân rễ (vẫn gọi là rễ). Rễ hình trụ tròn nhỏ, hơi cong queo, sắc vàng ngà, chất nhẹ, mà dai. Thứ mập đốt dài khô không ẩm mốc, sạch bẹ, không lẫn tạp chất (rễ cỏ may) là tốt. Thứ gầy, đốt ngắn, mốc ẩm là xấu.

2. Thu hái - sơ chế:

+ Thu hái vào mùa thu và mùa xuân. Đào lấy thân rễ, cắt bỏ phần trên cổ rễ, rửa sạch đất cát, tuất bỏ sạch bẹ và rễ con, phơi sấy khô, phân loại to nhỏ và buộc thành bó. Vị thuốc có dạng hình trụ, mặt ngoài màu trắng ngà hay vàng nhạt, có nhiều đốt và nếp nhăn dọc. Bạch mao căn có mùi thơm nhẹ, vị hơi ngọt, độ ẩm không quá 12%, tạp chất không quá 1%.

3. Bào chế - bảo quản:

Bào chế:

+ Theo Trung Y: Không dùng thứ rễ nổi trên mặt đất, đào lấy rễ dưới đất, rửa sạch đất cát, bỏ hết lông con ở ngoài mà dùng.

+ Theo kinh nghiệm VN: Để nguyên rễ khô, rửa sạch, cắt ngắn 2-3cm, phơi khô dùng sống.

Bảo quản: Dễ hút ẩm, cần để nơi khô ráo, trước mùa mưa cần phơi sấy, phòng chống mọt mốc.

4. Thành phần: Cylindrin, Arundoin, Fermenol, Potassium, Calcium, Glucose, Fructose, Oxalic acid.

5. Tính vị - quy kinh:

Tính vị: Rễ cỏ tranh có vị ngọt, tính hàn.

Quy kinh: Vào ba kinh tâm, tỳ và vị.


 

6. Tác dụng - chủ trị:

Tác dụng dược lý:

+ Tác dụng làm đông máu nhanh: Bột Mao căn làm rút ngắn thời gian hồi phục Canxi của huyết tương thỏ thực nghiệm.

+ Tác dụng lợi niệu: Dùng thuốc sắc hoặc nước ngâm kiệt thụt dạ dày thỏ bình thường có tác dụng lợi niệu, nhiều nhất là sau 5 ngày đến 10 ngày. Tác dụng này có liên quan đến hệ thần kinh hoặc do thuốc có nhiều muối kali.

+ Tác dụng ức chế vi khuẩn: Thuốc sắc còn có tác dụng ức chế trực khuẩn lị Flexner và Sonnei, nhưng đối với trực khuẩn Shigella thì không có tác dụng. Ảnh hưởng của thuốc đối với cơ tim hấp thu lượng 86 Mao căn chiết xuất với nước và rượu hỗn hợp, với nồng độ 2:1 ; 0,2ml/10g chích ổ bụng làm cho lượng hấp thu Rb của cơ tim chuột nhắt thí nghiệm tăng lên 47,4%. Mao căn không có tác dụng giải nhiệt.

+ Độc tính: Dùng nước sắc thuốc bơm nuôi thỏ nhà với liều 25g/kg, 36 giờ sau, hoạt động của thỏ bị ức chế, vận động chậm, hô hấp tăng nhanh nhưng hồi phục lại bình thường không lâu. Trường hợp chích tĩnh mạch với liều 10 - 15g/kg thì xuất hiện thở nhanh, vận động giảm 1 giờ sau hồi phục dần, nếu chích với liều 25g/kg, 6 giờ sau thỏ chết.

Tác dụng:

Tiêu ứ huyết, lợi tiểu tiện,thông tiểu và tẩy độc cơ thể, điều trị sốt nóng, bệnh sỏi thận, viêm đường tiết niệu, tác dụng tốt cho bệnh nhân mắc bệnh về phổi.

Chủ trị: Giải nhiệt, phiền khát, tiểu tiện ít, chữa chứng lậu nhiệt, lậu mủ, đái ra máu, thổ ra máu, chảy máu mũi, suyễn gấp.

7. Kiêng kỵ: Không dùng cho người Hư hỏa, mà không thực nhiệt kiêng dùng, phụ nữ có thai.

8. Một số cách dùng thông dụng:

+ Trị sốt xuất huyết: Dùng Mao căn 50 - 100g, Đơn sâm 20 - 30g, Lô căn 30 - 40g, Hoàng bá, Đơn bì đều 10 - 15g, Bội lan 15 - 30g, tùy chứng gia vị, đã trị 60 ca xuất huyết, mỗi ngày 1 - 3 thang sắc chia nhiều lần uống. Có kết hợp dùng sinh tố C 2 - 3g/ mỗi ngày, truyền dịch và cho thuốc tây cầm máu lúc chảy máu nhiều, chỉ có 2 ca tử vong còn hồi phục tốt so với tổ đơn thuần dùng thuốc tây tốt hơn và sự khác biệt có ý nghĩa thông kê (Báo cáo của Hạ viễn Lục, Tạp chí Trung tây y kết hợp 1986.6(4):212).

+ Trị chảy máu cam: Chi tử 18g, Mao căn tươi 120g (hoặc Mao căn khô 36g) sắc uống nóng sau ăn hoặc trước lúc ngủ, có kết quả đối với chảy máu cam thể phế vị thực nhiệt, tâm hỏa bốc, uống 1 - 3 thang có kết quả.

+ Trị viêm thận cấp: Bạch mao căn khô 250g, nước 500ml sắc nước chia 2 - 3 lần uống, trị viêm thận cấp trẻ em, có 11 ca, 9 ca khỏi, 2 ca tốt, trung bình mỗi bệnh nhân uống 42 thang, so với tổ đối chiếu tỷ lệ khỏi cao hơn 21% (Báo cáo của Lưu Tuấn Quảng đông y học 1965, 3:28).

+ Dùng thanh nhiệt giáng hỏa: Trong các trường hợp nội nhiệt phiền khát, phế nhiệt khó thở, vị nhiệt nôn ói. Mao căn tươi 40g sắc uống, lúc thuốc ấm sau khi ăn.

+ Trị chứng phế nhiệt khó thở: Mao cát thang: Mao căn 12g, Cát căn 12g, sắc nước uống trị chứng nấc cụt do nhiệt.

+ Dùng lương huyết chỉ huyết: Trị chứng nhiệt thịnh gây nôn ra máu, chảy máu cam.

+ Tam tiên ẩm: Tiên mao căn 40g, Tiên tiểu kế 20g, Tiên ngẫu tiết 40g, sắc uống trị chứng hư lao trong đờm có máu (có thể dùng cho bệnh lao, giãn phế quản ho ra máu). Mao căn 40g, Đại kế căn 20g sắc uống trị tiểu ra máu.

+ Dùng lợi tiểu tiêu phù: Trong các trường hợp viêm cầu thận cấp, phù, nước tiểu ít, thấp nhiệt hoàng đản. Bạch mao căn tươi ( cạo sạch vỏ) 80 - 160g, Bạch anh tươi 80g, Thịt nạc heo 160g nấu ăn. Trị viêm gan hoàng đản tiểu tiện ít. Bạch mao căn tươi, Tây qua bì đều 40g, Ngọc mễ tu 12g, Xích tiểu đậu 16g, sắc uống .

+ Trị viêm cầu thận cấp: Trà lợi tiểu, Râu ngô 40g, Xa tiền 25g, Rễ cỏ tranh 30g, Hoa cúc 5g, tất cả thái nhỏ trộn đều. Mỗi lần cân 50g pha thành 0,75lít, chia uống trong ngày vòa lúc khát.

+ Dùng phòng ngừa ho gà: Bạch mao căn 20g, Cam thảo 8g, Bắc sa sâm 12g, sắc uống ngày 1 thang.